Truyện nôm Quán Âm Thị Kính


I. Mở đầu:

I.1. Truyện Nôm từ lâu đã trở thành một di sản quí báu trong kho tàng văn học dân tộc. Nhiều tác phẩm đã đi vào trong cuộc sống thường ngày, thành lời ru con trẻ, chuyển thể sang các loại hình nghệ thuật khác như chèo, cải lương, hát bội…Nhân dân ta đã đúc kết nhiều giá trị tinh tuý của tâm hồn dân tộc trong các truyện Nôm, giáo dục các thế hệ sau về những tấm gương đạo đức, những bài học về đối nhân xử thế, về nhân tình thế thái, vun đắp lối sống lành mạnh trong sáng. Rõ ràng trong truyện Nôm đã gói ghém rất nhiều bài học cho hậu thế.  Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi tìm hiểu quan điểm lý giải số phận con người qua một truyện Nôm cụ thể: Quán Âm Thị Kính.

I.2. Quán Âm Thị Kính là một truyện Nôm nổi tiếng có ảnh hưởng rất nhiều trong dân gian, gắn liền với tích về kiếp thứ mười của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Văn bản được đưa ra khảo sát là bản của Thiều Chửu hiệu đính, do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1994. Trong đó, phần giải thích tiêu đề tác phẩm Quán Âm Thị Kính Bản Hạnh Tiêu Thích đã nói rõ mục đích chia ra từng phần để giải thích rõ hơn về giáo lý đạo Phật thông qua cuộc đời của Thị Kính – Kính Tâm. Nhưng chúng ta có thể khẳng định một điều: bên cạnh việc giáo hoá Phật pháp, tác phẩm còn chứa đựng những quan điểm nhân dân nên đã tạo ra một hình tượng Phật Bà Quán Âm rất gần gũi với đời thực. Sự kết hợp tư tưởng Phật giáo và tư tưởng nhân dân đã đem lại cho chúng ta những góc nhìn thú vị xung quanh việc lí giải về số phận con người, đặc biệt giúp chúng ta hình dung rõ hơn về người phụ nữ trong xã hội phong kiến với cuộc sống trăm đắng ngàn cay và những phẩm hạnh tốt đẹp. Tác phẩm đã có sự chi phối của hai luồng tư tưởng, tạo nên mối giao thoa giữa Đạo và Đời, thể hiện rõ cách đánh giá của người bình dân ngày xưa về con người, xoay quanh cuộc đời của nhân vật trung tâm Thị Kính – Kính Tâm. Bên cạnh đó, là những nhân vật như Thiện Sĩ, Thị Mầu, Mãng ông Mãng bà liên quan trực tiếp đến nhân vật cũng sẽ là những nét bổ sung nhằm làm rõ quan điểm lý giải số phận con người của tác phẩm.

I.3. Cuộc đời của Thị Kính phải chịu nỗi oan khuất bắt đầu từ một niệm khởi từ tiền kiếp, khi đức Quán Âm đã không vượt qua sắc giới:

Có chăng kiếp khác họa là

Kiếp này sợi chỉ chót đà buộc tay.

Kiếp thứ mười lại là nữ nhi, đức Quán Âm đã gánh chịu tất cả những thiệt thòi oan uổng để rồi với một chữ Nhẫn đã vượt qua thử thách, tu thành chánh quả! Hai đoạn đời Thị Kính – tiểu Kính Tâm của nhân vật đều phải đối mặt với những bi kịch nhân sinh, những bi kịch mang ý nghĩa xã hội sâu sắc! Đằng sau những câu thơ nhằm tán dương phẩm chất của một đấng cứu khổ cứu nạn, ta bắt gặp con người của đời thực chịu bao nhiêu khổ nạn, mà điểm xuất phát từ chính những mối quan hệ gia đình xã hội với bao thành kiến tiềm ẩn bi kịch dành sẵn cho những con người thấp cổ bé họng, hiền lành lương thiện.

II. Thị Kính – góc nhìn con người từ quan hệ gia đình:

II.1. Đứng từ góc nhìn Phật giáo, việc Thị Kính phải chịu nỗi oan giết chồng chính là căn nguyên giúp cho Thị Kính tìm đến cửa Phật sau này, chọn con đường của bậc chân tu để vượt lên những tham dục chốn hồng trần. Chúng tôi xin phép không đề cập lại những yếu tố mang nặng tính minh họa tư tưởng của đạo Phật đã được Thiều Chửu thích nghĩa trong cuốn sách đã nêu mà chỉ đối chiếu mối quan hệ giữa hai yếu tố Đạo và Đời nhằm tìm ra thực chất quan điểm chi phối cách lý giải số phận con người trong tác phẩm, vấn đề đặt ra là tác phẩm nhằm giáo dục đạo đức cộng đồng hay đề cao vào con người cá nhân với những bi kịch và khát vọng riêng, trả lời những câu hỏi do cuộc đời đặt ra. Trong hệ thống truyện Nôm bình dân, yếu tố tai biến là trung tâm để làm bật lên những phẩm chất nhân vật trong hoàn cảnh éo le nhất. Đúng như PGS.TS Đinh Thị Khang đã nhận xét: “Nhóm truyện Nôm bình dân thường viết về nội dung đấu tranh bảo vệ quyền sống, giá trị, hạnh phúc con người trước các thế lực xã hội. Vận mệnh và phẩm chất nhân vật, đặc biệt là người phụ nữ trong đấu tranh xã hội đã trở thành nội dung cơ bản của tác phẩm. Vì thế tai biến được xây dựng là sự kiện chính của tác phẩm.”, truyện Nôm Quán Âm Thị Kính cũng không là ngoại lệ. Ban đầu, nàng cũng có một gia đình hạnh phúc, một mối lương duyên tốt đẹp:

Tiếng cầm tiếng sắt bẻ bai

Tiếng chiêng tiếng trống êm tai rập rình

Thị Kính được mô tả với những phẩm hạnh nết đủ mọi điều, trong mắt mọi người xứng là vợ hiền dâu thảo. Mối quan hệ gia đình đổ vỡ bắt nguồn từ tình tiết nửa đêm cầm dao định cắt râu mọc ngược cho chồng  của Thị Kính. Không phải ngẫu nhiên tác giả đã để cho trong hoàn cảnh đó, Thiện Sĩ hoàn toàn im tiếng, không có một lời bênh vực. Còn mẹ chồng đã đứng ra kết tội Thị Kính với những lời nặng nề. Chỉ vì những lời cáo buộc trong hoàn cảnh tình ngay lý gian, nàng đã bị khoác vào đủ lớp áo xấu xa hoàn toàn đối lập với con người thực của nàng:

Công cô rằng: bảo cho hay

Trộm hương cắp phấn cũng đầy chan chan

Mấy người tiệt quyết một an

Nay Tương mai Lý thế gian hiếm gì

Quả là trong tình huống “chữa dép vườn dưa” ấy, nàng khó mà có thể biện minh cho mình, để phải mang một án oan định giết chồng, bị trả về gia đình. Với người phụ nữ trong xã hội ngày xưa, không trọn đạo vợ chồng là một điều ô danh không chỉ cho bản thân mà còn gánh vào nỗi nhục của gia đình. Nhưng cũng bắt đầu từ tai biến ấy, người đọc mới thấy hết những phẩm chất tốt đẹp của Thị Kính được soi chiếu từ cả hai phía Đạo và Đời.

II.2. Xung đột trong gia đình được giải quyết theo chiều hướng “hòa bình”, nhưng đã tước đoạt đi hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ nết na đức hạnh, để lại mối thương tâm khó nguôi trong tâm hồn Thị Kính. Đoạn thơ diễn tả cuộc chia tay của hai vợ chồng có thể thấy rõ nỗi bất hạnh của Thị Kính khi có một người chồng yêu vợ nhưng lại quá hời hợt nên không hiểu nổi vợ mình. Thiện Sĩ  đáng trách không chỉ ở thái độ hồ đồ mà còn ở thái độ thiếu dứt khoát , đang tâm dứt mối duyên tình với người vợ đã nặng thề nguyền. Thị Kính đã phải lạy tạ dứt áo ra đi, nói những lời đầy nước mắt, nhưng anh ta hoàn toàn không phản ứng. Chỉ đến khi Thị Kính thật sự bước chân đi, Thiện Sĩ mới tiếc ngẩn ngơ, sùi sụt! Nhưng tiếc thay những suy nghĩ của Thiện Sĩ lại càng chứng tỏ sự tầm thường trước Thị Kính:

Phấn kia còn dấu bình đây

Hương kia còn dính áo này chưa phai

Xanh xanh khóm liễu Chương Đài

Tiếc thay đã để tay ai vin cành

Nếu chỉ soi chiếu theo quan điểm đạo Phật thì đó là cơ hội để nàng dứt nợ nhân duyên, thoát ra bể khổ nhân gian. Nhưng soi chiếu kỹ tâm hồn Thị Kính sau mối oan nghiệt, ta nhận ra thái độ thương cảm của người bình dân dành cho con người bất hạnh. Thị Kính mang tiếng oan nhơ nhuốc, trở về đầy tủi hổ. Thử đọc đoạn thơ miêu tả tâm trạng của Thị Kính khi bị trả về nhà Mãng ông, ta sẽ nhận thấy dấu ấn của người viết như muốn chia sẻ cùng nàng

Phòng riêng vò võ hôm mai

Trông ngày đằng đẵng lại dài hơn năm

Buồn trông giọt ngọc đầm đầm

Mùi ăn chẳng nhớ, giấc nằm chẳng ngon

Nực cười sự cỏn còn con

Bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn

Vẻ chi chút phận hồng nhan

Cánh hoa nở muộn thời tàn mà thôi

Rõ ràng trong đoạn thơ đã dành nhiều từ ngữ khắc hoạ nỗi đau buồn của một người bị phụ rẫy mà không biết thở than, chia sẻ với ai. Gia đình nàng cũng vì tai tiếng mà phải ngậm đắng nuốt cay nhìn con chôn vùi tuổi xuân. Bởi vậy giải pháp đưa ra là để nàng ra đi, lánh xa mọi phiền não thế gian. Nhân vật Thị Kính mắc phải tiếng oan, không quyết liệt phản ứng lại thực tại, gột rửa tiếng xấu nhơ nhuốc trong cuộc sống thực, mà chọn con đường xuất gia cầu đạo. Dường như đối với tác giả truyện Nôm này, đó cũng là một giải pháp hợp lý, đưa con người vượt qua bể khổ. Nhưng trước khi là người của chốn Phật môn, nàng đã tỏ rõ những nỗi niềm của một người con chí hiếu phải đứt ruột gạt lệ xa lìa cha mẹ già. Trong cảnh thân gái dặm trường, tấm tình của nàng hướng toàn bộ về gia đình:

Tưởng ân trời bể mông mênh

Dễ mà đền được ân tình ấy đâu

Tà tà bóng ngả cành dâu

Sớm khuya dưới gối ai hầu hạ thay

Vắng lời khuất mặt lúc này

Lòng người thiểu não biết ngày nào nguôi…

Ta có thể nhận ra một phương diện nữa trong đánh giá con người theo quan niệm nhân dân về chữ Hiếu! Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa tư tưởng đạo Phật với tư tưởng nhân dân. Xuất gia không có nghĩa là con người gạt bỏ hết những mối liên hệ với cuộc đời, trái lại người xuất gia trước hết phải là người vẹn tròn chữ hiếu. Chữ hiếu ở đây hoàn toàn không mang dấu ấn của Nho giáo mà xuất phát từ Phật giáo đại thừa: “Hiếu là cái pháp thứ nhất của đạo chí thiện” (dẫn theo Thiều Chửu). Thị Kính được xây dựng như một người con hiếu hạnh, ngay cả giai đoạn sau này khi ở chốn Thiền môn vẫn luôn canh cánh bên lòng tình thương yêu dành cho cha mẹ.

II.3 Tác giả truyện Nôm xây dựng xung đột trong quan hệ gia đình chỉ như một cái cớ để đưa nhân vật vào chốn cửa Thiền, bởi vậy không khai thác sâu thêm những xung đột đúng ra sẽ hết sức gay gắt trong mối quan hệ gia đình. Thế nhưng từ mối quan hệ với nhà chồng, với cha mẹ của Thị Kính, tác giả đã đưa ra hình ảnh người phụ nữ của gia đình với những chuẩn mực đạo đức theo khuôn mẫu của xã hội, không những thế còn tiến xa hơn khi lý giải những nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa truyện Nôm Quán Âm Thị Kính với văn học dân gian cũng như một số truyện Nôm đương thời, trong sự lý giải về số phận con người theo quan niệm nhân dân: hướng về người phụ nữ với những lời ca ngợi về phẩm hạnh tốt đẹp, đồng thời khai thác bi kịch của những nạn nhân đau khổ nhất của chế độ phong kiến, luôn bị dồn đẩy vào những tình huống đầy nước mắt, chịu những áp lực nặng nề của  thành kiến và luật lệ khắt khe, chung một kiếp hồng nhan bạc mệnh. Nhưng Quán Âm Thị Kính còn tạo một bước rẽ ngoặt khác cho nhân vật, để tập trung vào chủ đích của tác phẩm, thể hiện trong lời mở đầu:

Nhân sinh thành Phật dễ đâu

Tu hành cứu khổ rồi sau mới thành

III. Kính Tâm – điểm gặp gỡ Đạo và Đời:

III.1. Đoạn đời thứ hai của Thị Kính gắn với màu áo nâu sồng của một chú tiểu. Từ thân phận phụ nữ, phải cải dạng nam trang để chôn vùi quá khứ trong lời kinh câu kệ, tìm chút thanh thản, không vướng bụi trần. Thế nhưng dường như chướng căn tiền kiếp đã làm nên mối oan tình thứ hai từ vụ án chửa hoang của Thị Mầu. Kính Tâm không chỉ đóng vai trò của một nạn nhân mà còn đóng vai trò của một đấng cứu nạn. Đưa ra tình huống truyện éo le này, trước hết tác giả Quán Âm Thị Kính nhằm đề cao chữ Nhẫn của bậc chân tu. Nhưng phần đời Thị Kính trong lốt tiểu Kính Tâm vẫn là điển hình cho những oan khổ của con người đã được lý giải một cách xúc động. Từ đó cũng hoàn thiện chân dung tâm hồn của Thị Kính.

Một điều cần phải nói rõ : động cơ nào đã làm cho Thị Kính bén mùi Thiền? Có người cho rằng hành động này của Thị Kính cũng là phản ánh thái độ tiêu cực lánh đời vào chùa của nhiều Phật tử. Nhưng cũng có thể thấy một sự thực đàng sau số phận Thị Kính: đó cũng là giải pháp cho nhiều người phụ nữ bất hạnh, mong tìm thấy một chốn nương tựa bình an. Nhưng ngay chính nơi tưởng như lánh xa đời tục, những tham, sân, si vẫn cám dỗ một cách dai dẳng. Lòng trần đầy vọng niệm chưa hẳn đã tắt, bởi những cám dỗ của cuộc sống, những mối dây liên hệ với cuộc đời vẫn không thể cắt bỏ. Ngay những ngày sống ở cửa Phật, dường như Thị Kính vẫn là con người của trần thế, của gia đình. Những khoảnh khắc nhớ nhà của Thị Kính cũng được diễn giải rất tự nhiên, cho thấy mối dây hồng trần vẫn khiến nàng không hẳn để lòng mình nguôi ngoai theo nhịp kinh kệ:

–         Đòi cơn tưởng nỗi hương quê

Người đi ngàn dặm lòng về năm canh

–         Lấy chi làm chuyện giải phiền

Quyển kinh trăm lá ngọn đèn một hoa

Bạch vân khuất nẻo xa xa

Song thân ta đấy là nhà phải không?

Bể non chưa chút đền công

Bấy lâu nay những nặng lòng vì con

Tuy rằng những đoạn diễn tả tâm trạng này không phức tạp và đẫm nước mắt như Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, nhưng đọc lên vẫn khiến người nghe phải thương cảm cho nỗi niềm của một người con chí hiếu. Nhìn từ tâm trạng của tiểu Kính Tâm, ta có thể thấu đáo hơn quan niệm về người xuất gia của dân gian đã được gửi gắm trong tác phẩm.

III.2. Thị Mầu là một hình tượng khá độc đáo trong truyện Nôm Quán Âm Thị Kính với những dục vọng không hề che đậy. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam phái Thiền tông, từng có chuyện Điểm Bích lên chùa thử lòng Huyền Quang tam tổ. Và câu chuyện này tiếp tục mô tip ấy. Trong thời điểm truyện Nôm ra đời, cũng khá nhiều câu ca dao, thơ trung đại chế giễu loại người tu nhưng chưa dứt lòng phàm, đã phạm vào sắc giới, chẳng hạn như bài ca dao hóm hỉnh:

Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

Sư về sư ốm tương tư

Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu!

Thị Màu cũng là một dạng thôn nữ yếm thắm rất táo bạo trong những khát vọng trần thế, bởi vậy khi gặp tiểu Kính Tâm mà đem lòng yêu thương cũng là điều tất yếu. Đoạn kể chuyện Thị Mầu ve vãn tiểu Kính Tâm sau này đã được nghệ thuật sân khấu chèo dựng thành lớp Thị Mầu lên chùa nổi tiếng. Trong truyện Nôm, nhân vật cũng được miêu tả với tất cả sức sống mãnh liệt. Lòng si mê của Thị Mầu với Kính Tâm cũng là tình cảm hết sức tự nhiên nam nữ, nhưng bất bình thường là ghẹo đúng chú tiểu Kính Tâm, để bắt đầu một nghiệp chướng:

Liếc trông thấy tiểu dịu dàng

Sóng thu xui khiến cho nàng khát khao

Người đâu có dáng thanh tao

Bóng hoa dưới nước vẻ sao trên trời

Tình cảm ấy có phần táo bạo và liều lĩnh, trái ngược với những chuẩn mực xã hội về người phụ nữ. Thị Mầu là hiện thân của khát vọng bản năng, còn Kính Tâm tất nhiên sẽ không thể nào đáp ứng thứ tình cảm mãnh liệt ấy. Dường như sự phê phán dành cho nhân vật Thị Mầu không lớn, bởi lẽ sẽ trái với tinh thần yêu thương mọi chúng sinh của đạo Phật. Ve vãn Kính Tâm không được, Thị Mầu tằng tịu với đứa thương đầu để rồi đem đến oan khuất không thể giãi bày cho tiểu Kính Tâm. Hoá ra khi không được thoả nguyện yêu đương, Thị Mầu đã bất chấp cả đạo lý làm tổn hại thanh danh của “người trong mộng” , với một hy vọng rất ngây thơ:

Phải khi lên chốn thuyền trai

Kính Tâm tiểu ấy gặp ngoài sau bia

Quá yêu chót đã nguyện thề

Nhị hoa phó mặc bướm kia ra vào

Dù nên cầu bắc gửi trao

Nhờ làng ơn ấy đời nào dám quên

Có thể nói rằng, Quán Âm Thị Kính một mặt đề cao giáo lý đạo Phật, răn dạy con người những giới cần phải tránh để nâng cao Phật tính, nhưng mặt khác cũng không áp đặt con người vào những giới luật khắt khe, khi con người còn chìm đắm trong bến mê. Thị Mầu là kẻ lạc vào bến mê của dục vọng, và chính thị cũng là nạn nhân của chính dục vọng. Quan toà xử án ở đây không phải là bộ máy công quyền mà chỉ đơn giản là làng, đơn vị cấu thành nên đặc trưng xã hội Việt Nam thời phong kiến. Phép vua thua lệ làng, nhà chùa dù là nơi thanh tịnh, cũng không thoát khỏi ràng buộc với làng. Bởi thế khi bị đổ oan, Kính Tâm phải chịu đòn, phải nộp vạ. Sức mạnh của làng xã cũng là một trong những áp lực lớn, con người bị chi phối bởi những qui định khắt khe nên bản thân Thị Màu cũng không thể vượt qua luật tục, nhưng trớ trêu thay, tình cảm của Thị Màu đã bị trêu cợt bởi người cô yêu thương lại là nữ giả nam, hơn thế lại là người xuất gia. Có lẽ tác giả truyện Nôm này cũng đã nhận ra và thông cảm với cô Thị Màu táo bạo và đáng thương, dù đứng về mặt đạo đức xã hội thì vẫn lên án, nhưng đứng về phía nhân tình thì lại có những lời thông cảm:

Phép người đã cứ cung xưng

Yêu ai chỉ nấy may chưng được nhờ.

Rõ ràng trong lời cung xưng gian dối của Thị Mầu còn ẩn một chút hy vọng sẽ vớt vát tình cảm từ phía Kính Tâm cũng như thoát tội cho mình. Đây quả thật là một tình huống trớ trêu khiến cho Kính Tâm khi bị vu vạ thông dâm với Thị Mầu cũng khó có thể biện minh cho mình. Cũng vì vậy mà bi kịch lại chồng lên đời nàng một lần nữa. Kính Tâm đã chấp nhận chịu đòn của làng, chịu ra ở ngoài tam quan của chùa cũng xuất phát từ quan niệm về chữ Nhẫn của đạo Phật:

Sá thù chi đứa dâm ô

Nước tuỳ duyên rửa cho đi kẻo mà

Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hoà

Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu

III.3. Trong việc Kính Tâm chấp nhận nuôi đứa con của Thị Mầu, chúng ta thấy rõ đức hiếu sinh của nhà Phật, nhưng cũng cho thấy sự đáo để của cô Thị Mầu lẳng lơ, cũng như lòng nhân từ của Thị Kính. Đó là cách ứng xử đầy thông cảm của người phụ nữ dành cho người phụ nữ khác. Và trong cảnh tò vò mà nuôi con nhện, chúng ta lại chứng kiến một khía cạnh sâu thẳm nhất trong tâm hồn Thị Kính: thiên chức người mẹ. Rõ ràng từ việc nuôi con của Thị Kính, ta mới nhận ra sự hoà điệu của tư tưởng Phật giáo và văn hóa thờ Mẫu của người Việt cổ xưa. Cũng từ khoảnh khắc này, người đọc mới nhận diện rõ một bóng dáng Phật Bà Quán Âm, với lòng từ bi vô lượng, hiện hữu bằng xương bằng thịt dưới cõi trần trong lốt tiểu Kính Tâm, mở lòng cứu vớt chăm bẵm cho một sinh linh vô tội, đồng thời cũng cứu rỗi cho người mẹ – Thị Màu – người phải rứt ruột đem con bỏ chùa. Dù cho Thị Mầu là người đàn bà lẳng lơ nhưng cũng có tấm lòng người mẹ, bởi thế mà nhân vật này cũng có lòng xót con khi không được nuôi con để tránh tiếng xấu cho gia đình phú ông mà phải gửi vào cửa Phật:

Trên tay nâng giọt máu đào

Hầu đi lại đứng, toan vào lại ra

Ngỡ chơi đâu biết thế mà

Cắn răng đem dứt ruột già cho ai

Một lần nữa, Thị Mầu lại tìm thấy chiếc phao cứu sinh là tiểu Kính Tâm, nên mặt dạn mày dày đem con lên “trả”. Hành động của Thị Mầu đã là một cách cắt nghĩa cho một thứ tình yêu oái oăm, càng mang ơn càng gieo oán. Nhưng tiểu Kính Tâm đã không nề hà một lần nữa chịu tiếng oan, mở rộng lòng hiếu sinh mà đón nhận đứa trẻ. Tác giả đã đề cao lòng từ tâm xuất phát từ đức hiếu sinh của đạo Phật:

Dầu xây chín đợt phù đồ

Sao  bằng làm phúc cứu cho một người

Tinh thần nhân ái Phật giáo đã làm rạng danh bậc chân tu, nhưng cũng qua biến cố này, Quán Âm Thị Kính còn khai thác làm nổi bật  tấm lòng từ ái của một người mẹ thật sự ở Thị Kính:

Mẹ vò thì sữa khát khao

Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền

Nâng niu xiết đỗi truân chuyên

Nhai cơm mớm sữa để nên con người

Hành động này không chỉ lý giải đơn thuần bằng nguyên do làm phúc mà thể hiện một tình thương thật sự, giúp Thị Kính vượt qua những lời dị nghị, đàm tiếu của thế gian. Không những thế, nhân vật còn mang những cảm xúc thật sự người, của một lòng trần chưa cạn:

Ra công nuôi bộ thực là

Những buồn, có trẻ hoá ra đỡ buồn

Khi trống giục, lúc chuông dồn

Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày

Đoạn thơ thật thấm thía tình người cũng là cách để đem những giáo lý đạo Phật đến gần hơn với đời thường. Tâm Phật – tâm Đời hoà quyện, Quán Thế Âm Bồ Tát đã hoà cùng hình ảnh Mẫu của người Việt để hiện rõ lên dần một dáng dấp Phật Bà Quán Âm của người Việt.

IV. Quán Âm Thị Kính – quả phúc vẹn tròn:

IV.1. Những oan khổ của một đời hồng nhan cuối cùng chỉ được cởi ra khi tiểu Kính Tâm được siêu thăng về miền Tịnh độ. Đạo Phật chọn con đường giải thoát ở kiếp sau cho những chúng sinh lầm lạc ở bến mê. Thị Kính đã cởi bỏ được oan tình khi lộ hình hài nhi nữ. Thế nhưng nỗi đau mắc tiếng hại chồng vẫn mang theo canh cánh bên lòng. Bởi thế, có thể nói sự ra đi của Thị Kính thuần tuý là sự mất mát thông thường của một người chịu quá nhiều khổ nạn chốn nhân gian. Đó không phải là sự ra đi thanh thản của kẻ đã rũ sạch muộn phiền chốn nhân gian mà là hiện hữu của tột cùng thương tâm. Dường như hệ lụy nhân gian vẫn còn vướng vất, dẫu cho nỗi đau nén đến tận cùng, đạt đến đỉnh cao chữ Nhẫn mà vẫn khó nguôi ngoai. Nỗi lòng Thị Kính do đó không thể diễn đạt bằng thơ nữa mà phải hiện lên qua bức di thư đẫm nước mắt với bao nỗi niềm thân phận: “…Thủa làm vợ để chồng ngờ thất tiết; lúc làm trai cho gái đổ oan tình. Nên nghĩ ơn chín chữ cù lao, xa xôi chốc đã sáu thu, cách trở bận lòng khi đán mộ. Nghĩ đến nỗi đôi nơi ly biệt, nuôi nấng gọi là một chút, viếng thăm họp mặt lúc thần hôn. Muôn phần bội bạc đã cam rồi, trăm lạy nghiêm từ xin ở lại”. Ta có thể hình dung lá thư ấy được viết ra bởi một cõi lòng tan nát, nhưng vẫn giữ vẹn hiếu vẹn tình, kết tinh bao nhiêu máu lệ. Toàn bộ lá thư gói ghém trọn vẹn những bi kịch số phận của một kiếp hồng nhan mệnh bạc, khiến bao người phải ngậm ngùi thương cảm.

IV.2. Nhưng những bi kịch không chỉ dừng lại ở một số phận Thị Kính, tác phẩm còn khắc họa kết thúc số phận của Thị Màu để bổ sung hoàn chỉnh ý nghĩa bi kịch cho phận má đào. Thị Mầu, người đóng vai trò thủ phạm gây nên mối oan tình cho Thị Kính không phải là kẻ hoàn toàn lẳng lơ trắc nết, mất hết nhân tính. Nàng ta có lỗi nhưng cũng là người biết hổ thẹn với chính mình:

Thị Mầu cũng bạn má hồng

Để tang mà khóc bằng chồng dở dang

Phần thì hổ với lân bang

Phần thì rầu với song đường nói đay

Còn người còn cái thẹn này

Phải liều như thể vợ thày Trang sinh

Cái chết của Thị Mầu là để đền lại cho ác nghiệp mà nàng ta gây ra, nên phải chịu trầm luân kiếp sau theo thuyết nhà Phật. Nhưng nếu nhìn từ góc độ hiện thực, cái chết ấy còn do người đời thiếu sự bao dung độ lượng, thiếu tấm lòng một người như Thị Kính. Quan hệ làng xã, quan hệ gia đình và sự mặc cảm bản thân là những ràng buộc khiến Thị Mầu không còn con đường nào khác mà phải tự vẫn. Cũng là một bi kịch của phận má hồng.

IV.3. Không dừng lại ở sự quả báo nhãn tiền, tác giả Quán Âm Thị Kính còn lý giải cụ thể cho từng số phận các nhân  vật mà Thị Kính đã nhắc đến trong lá thư trần tình lúc giã từ dương thế. Nỗi đau của gia đình Mãng ông là khó có thể bù đắp, bởi lẽ cuộc sống của đôi vợ chồng già là một viễn cảnh u ám, thê lương:

Giữa đường thoát gánh khỏi tay

Xuân già huyên cỗi sau này làm sao?

Nỗi đau ấy hoàn toàn không có thể được bù đắp bởi những tín niệm đạo Phật, bổ sung hoàn chỉnh cho những thương đau chốn nhân gian. Bởi lẽ cha mẹ của Thị Kính đã phải chịu bao nhiêu đau đớn xuất phát từ mối oan của con gái: chịu nhục nhận con về, mang tiếng xấu với làng xã; con lại bỏ đi biệt tăm tích, náu mình cửa Phật; tuổi già sức yếu chỉ biết nương tựa vào nhau; đến lúc nhận tin con thì lại là sinh ly tử biệt. Nỗi đau của Thị Kính còn lồng vào những bất hạnh của ông bà họ Mãng.

Nếu như gia đình Mãng ông chịu nỗi đau lớn khiến người đọc ngậm ngùi thì trái lại tiếng khóc của Thiện Sĩ khiến mọi người khó chịu. Bởi lẽ nhân vật này không chỉ hồ đồ dẫn đến việc vợ mắc oan, mà anh ta còn là người nhu nhược ích kỷ khi đã không hề có một chính kiến nào để bảo vệ hạnh phúc của mình, phó mặc cho mẹ phán xét. Sáu năm trời mất tăm tích vợ, anh ta hoàn toàn không đoái hoài đến gia đình phía vợ. Thế nhưng khi biết mối oan tình, hối hận thì tiếng khóc kia không đủ khiến người đọc cảm thông, bởi chính anh ta là người đã quên lời thề nguyền khi se tơ kết tóc:

Tơ duyên bỗng sẻ đôi đường

Vì anh lỗi đạo cho nàng ngậm oan

Châu rơi có lẽ phục hoan

Cũng mong liễu lại tay Hàn mai ngay

Nửa chăn để bụi đã đầy

Uyên ương ước lại xum vầy hợp duyên…

Dường như đàng sau sự mô tả về Thiện Sĩ, tác giả cũng đã vẽ ra chân dung của một kẻ sống nhạt nhẽo tầm thường, không hề có cốt cách của Kim Trọng, mà còn kém hẳn cả Thúc Sinh trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du. Thiện Sĩ là một kẻ sống không ra sống, là một loại người như cái bóng tồn tại giữa cuộc đời và không thể đem lại hạnh phúc cho một ai. Bởi thế, ngụ ý sâu xa cho sự chuyển kiếp của Thiện Sĩ thành con vẹt đã bao hàm đầy đủ thái độ của nhân dân với hạng người này.

IV.4 Tác phẩm kết thúc bằng một có hậu không hoàn chỉnh nếu như xét từ góc độ nhân sinh. Thị Kính thành chính quả, thành Quán Âm Thị Kính – đấng cứu khổ cứu nạn có lẽ là một sự an ủi cho một số kiếp trầm luân nơi trần thế. Khép lại một tích Phật nhưng câu chuyện đã tạo dựng một hình tượng Phật Quán Âm độc đáo:

Truyền cho nào tiểu Kính Tâm

Phi thăng làm Phật Quán Âm tức thì

Lại thương đến đứa tiểu nhi

Lên tay cho đứng liền khi bấy giờ

Kìa như Thiện Sĩ lờ đờ

Cho làm chim vẹt đứng nhờ một bên

Độ cho hai khóm xuân huyên

Ra tay cầm quyết bước lên trên toà

Với việc để các nhân vật siêu thăng hưởng phúc, tác phẩm cũng đã hoàn thành nhiệm vụ giáo hoá chúng sinh về chữ thiện, về tinh thần giác ngộ, về một khả năng giải thoát nhiệm màu của Phật pháp vô biên. Nhưng có thể nói dân gian đã tiếp thu câu chuyện không hoàn toàn theo khuynh hướng thuyết lý đạo Phật mà đề cao giá trị nhân sinh của Quán Âm Thị Kính. Vở chèo cùng tên lấy từ cốt truyện này đã đem đến cho quần chúng bao đời một Thị Kính với cuộc đời đau khổ trầm luân làm rơi nước mắt  người xem, lớp Thị Mầu lên chùa mang đến một hình tượng tràn sinh lực với khát vọng yêu đương…đã thành lớp diễn kinh điển. Sự kết hợp hài hoà hai luồng tư tưởng: đạo Phật và quan niệm nhân dân đã đem đến cách lý giải số phận con người riêng biệt của tác phẩm so với các truyện Nôm cùng thời. Từ đó, hình tượng Phật Bà Quán Âm càng trở nên quen thuộc gần gũi với mọi người, mang tư tưởng hướng thiện, nhân bản cao cả./.

Hà Nội, tháng 1 năm 2008

TRẦN HÀ NAM

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s