Ngày xưa tớ cũng đi thi…


Đã sang đến tuần cuối cùng để học trò xác định tư tưởng trước khi chọn một trường Đại học nào đó phù hợp với khả năng của mình. Nhưng xem ra cái cửa ải tốt nghiệp năm nay dễ mà lại khó, khi mà các môn thi đã được công bố thì có 3 môn xã hội là Văn – Sử – Địa!

Lại nhớ ngày xưa mình cũng đi thi… Cấp 2 có môn Địa. Còn môn Sử, chưa bao giờ mình sợ nó cả!

Hồi đó cũng ngán ngẩm vì phải học bài môn Địa. Vậy là giở thói ma lanh, khi đề cương ôn tập môn Địa được phát ra cho học sinh học thuộc lòng, học mãi không vô, nên quyết định ghi phao. Cảm ơn chuyện chép phao lần duy nhất này, và cũng cảm ơn vì hồi đó không có máy photocopy. Vì sao thì sẽ kể sau!

Bây giờ kể chuyện mình học Sử đã: môn Sử không bao giờ là khó đối với mình vì mình thường nắm bài kĩ trước khi cô giảng. Hồi nhỏ đã mê Sử qua những mẩu chuyện con con kể về các triều đại, sau đó là đến những chuyện liên quan đến lịch sử chiến tranh 45 – 75, chuyện về các danh nhân thế giới, các nhân vật lịch sử. Nên khi học một giai đoạn lịch sử nào, dù là sử thế giới hay Việt Nam, thường là mỗi bài học lại hiện lên câu chuyện mình đã từng được đọc, vậy là liên hệ ngay, tưởng tượng trong đầu như một cuốn phim quay chậm: sự kiện – diễn biến – nguyên nhân – kết quả – bài học cứ thế mà hiện lên trong đầu như một cái khung định sẵn. Và thêm vào đó, năm nào nhà mình cũng mua lịch túi, có ghi các sự kiện đáng nhớ trong năm. Vì vậy để nhớ ngày tháng của sự kiện, mình lập hẳn một list như kiểu lịch túi, khỏi lo. Gay go nhất là con số cụ thể kiểu ta tiêu diệt bao nhiêu, địch chết bao nhiêu. Hồi đó, mấy đứa bạn thân trong nhóm học chung, đến khi truy bài là nhớ. Lại có nhiều khi nghe đứa bên cạnh tụng bài tức cười quá, là nhớ như in các con số. Hồi đó chán nhất cô Th. dạy Sử, cứ mải nghĩ đâu đâu, có khi mấy đứa lên trả bài, cô cứ nghe lơ là rồi phệt điểm. Mình dò bài nói không ngắc ngứ, cô phệt điểm cao. Còn đứa nào thuộc lòng, lên trả bài ngập ngừng, cô phán 5 điểm. Chán ốm!

Giờ sang chuyện thi môn Địa hồi cấp 2: đầu tiên hì hục học mãi 1 câu không vào, nên quyết định chép phao. tìm được giấy trắng, cắt nhỏ ra nối dài như cuốn phim, sau đó luyện ghi chữ nhỏ tí như con kiến. Chữ mình đều, dễ đọc nên chép nhỏ mà mắt tinh vẫn đọc được. Sao toàn bộ các câu hỏi vào mấy mặt phao. Hài lòng quá xá! Đọc đi đọc lại, lại sợ lỡ vào lôi phao ra nhầm câu thì toi, bèn lấy bút đỏ cẩn thận ghi lại, gạch dưới các đề mục chính, cẩn thận đếm xem trong đề mục đó có mấy cái gạch đầu dòng. Hài lòng lần 2, ngắm nghía công trình của mình, đọc thêm lần nữa. Tối ngủ còn mơ thấy mình chép tài liệu, chẳng may chép nhầm! Vậy là không an tâm, lôi tài liệu ra đọc lần nữa. Khỉ thật…hình như mình thuộc làu làu những gì mình chép!!! Ơ, thế thì cần quái gì tài liệu? Bỗng phát hiện ra một phương pháp học hiệu quả là ghi ra giấy, nhớ đề mục chính, nhớ từng ý nhỏ bên trong, đếm ý mà học. Vậy là đến hôm thi tốt nghiệp cấp 2, mình ném quách tài liệu ở nhà, ung dung vào phòng! (Mãi sau này đọc một tài liệu hướng dẫn phương pháp rèn luyện trí nhớ sâu, mình mới thấy việc coi đi coi lại công trình của mình, học bằng cách ghi ra giấy hiệu quả gấp trăm lần ôm sách tụng kinh ê a hóa ra mình đi đúng hướng!). Thi Địa năm đó được 10 điểm đỏ chót, thở phào và vênh mặt, nhưng giấu biệt chuyện chuẩn bị tài liệu ở nhà mà hóa ra lại thuộc luôn bài! Tự hào vì là điểm của mình. Sau này, vận dụng cho học các môn học bài khác, hiệu quả bất ngờ! Đến khi lên cấp 3, gặp sư phụ Trương Tham dạy Văn, bắt chép phạt, làm bài, nhiều đứa oán nhưng hình như mình thấy đó là phương pháp thầy giúp trò học bài cho kĩ! (Hehe, sau này đi dạy mình cũng cho trò chép, không gọi là chép phạt mà là “học lại cho kĩ”!!!). Môn Địa năm 12 còn có vụ vẽ bản đồ, thầy Thụ dạy phương pháp vẽ cực nhanh, mình vốn khoái vẽ vời, tiếp thu ngay. Phân tích địa lý – kinh tế, phân bố vùng miền địa phương không bị sai vì mình hồi nhỏ hay tìm hiểu địa phương, tên quốc gia, vùng miền. Ở nhà có cuốn Atlas thế giới, hàng hiếm hồi đó, mình biết coi bản đồ các loại từ năm lớp 5 (vì chả có nhiều sách mà coi) nên sau này không khổ sở như chúng bạn chuyện đọc bản đồ. Bây giờ học trò nào cũng có Atlas, quá sướng!

Nhớ hồi chọn khối, mình dự định đi khối C, nghĩ bụng ban đầu chọn ĐH tổng hợp cho đúng sở thích viết văn làm báo. Ai dè lại dính sư phạm vì hồi đó chỉ tuyển thẳng vào sư phạm học sinh giỏi quốc gia. Vào kì thi  cấp quốc gia mình làm bài như không làm, năm đó là 1986 chuẩn bị ĐH Đảng, mình đọc đề trích “Với Đảng, mùa xuân…” của Tố Hữu viết sau ĐH Đảng IV, vào Xuân 1977, vậy là nhờ nhạy lịch sử, mình bắt trúng mạch yêu cầu, say sưa viết như lên đồng. Ai dè được 8/10 giải Nhì không có giải Nhất, 2 tháng sau công bố giải mặt mình vênh lên trời. Được vào thẳng ĐH còn làm dóc, ỷ mình có thể thi Văn – Sử – Địa như chơi. Đến hôm thi ĐH, cũng xách bút định đi thi chơi, lấy điểm cao cho thiên hạ nể! (Ngông mà!). Ai dè khi nghe thông báo phải nộp tiền thi ĐH, mặt tái dại (vì trong túi không có một xu), cút thẳng về nhà chờ tuyển thẳng, mặc kệ chúng nó thi sao thì thi. Nói dại, học tài thi phận, hôm đó hăng lên về lấy tiền nộp để thi, nhỡ viết linh tinh điểm thấp thì …
Nhân sắp mùa thi, ôn lại chuyện 26 năm trước, lên chém gió chơi! Công nhận mình cũng rảnh thiệt!

Video

SEASONS IN THE SUN – Westlife


Lời 1: Tôi chia tay anh người bạn thân ơi
Ta quen nhau khi ta mới lên 5 hoặc 10
Leo lên cây chơi hay lên đồi chơi
Tình ta mới lớn lên còn non
Và ta siết mối se quả tim
Tôi chia tay anh đời chưa hết sống
Khi chim ca vang mây vẫn bay trong trời hồng
Xuân qua mênh mông khắp nơi chờ mong
Người con gái vẫn xinh đẹp luôn
Thì ta vẫn có nhau phải không?
Và khi xưa ta quen nhau sống biết bao ngày trong nắng trời
Mà giờ đây ta leo chơi trên những con đồi màu đã xa!
Lời 2: Con xin thưa ba cầu nguyện cho con
Khi xưa con hư thân khiến cho ba thật buồn
Ba thương yêu con nên ba dạy con
Vì con đã quá mê đờn ca
Vì con đã quá mê đường xa
Con chia tay ba đời chưa hết sống
Khi chim ca vang mây vẫn bay trong trời hồng
Xuân sang mênh mông khắp nơi chờ mong
Đàn con nít vẫn chơi đùa vang
Thì con vẫn có ba phải không?
Và khi xưa ba con ta sống biết bao ngày trong nắng trời
Mà đường xa hay câu ca đã biến tan thành bụi bay xa
Lời 3: Ôi thôi em yêu đành biệt ly em.
Em mang cho anh cơn nắng tươi trong hạ huyền.
Em mang cho anh phút giây thần tiên.
Rồi vấp ngã có em nhẹ nâng.
Rồi yếu đuối có em dựa thân.
Em yêu, em yêu đời chưa hết sống.
Khi chim ca vang mây vẫn bay trong trời hồng.
Xuân sang mênh mông khắp nơi chờ mong.
Vườn hoa thắm vẫn tươi màu luôn.
Thì ta vẫn có nhau phải không.
Và khi xưa ta yêu nhau sống biết bao ngày trong nắng trời.
Mà ngôi sao đôi ta mơ, nay đã rơi rụng ngoài biển xa.
(GHI LẠI THEO TRÍ NHỚ – TRẦN HÀ NAM)

Những bài văn …


Tính từ khi mình đi dạy đến nay, đã mấy phen rồi thay đổi trong sách giáo khoa!

1994 – 1999

Niềm hạnh phúc khi bắt đầu đi dạy cũng là lúc mình phải vật lộn với những tác phẩm hoàn toàn khác so với thời mình đi học. Nhớ nhất ngày ấy là khi dạy những bài thuộc chương trình lớp 11, phần Thơ Mới. Ngày xưa, khi đi học, phần này được đánh giá là “Văn học lãng mạn bạc nhược, suy đồi”. Khi học Đại học, đã thấy có sự thay đổi trong đánh giá, nhưng về tác phẩm không được tiếp xúc bao nhiêu ngoài những tác phẩm tự tìm mà đọc của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử. Còn khi đi dạy, mình lại tiếp xúc với thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thâm Tâm. Xuân Diệu và Huy Cận thì mình cảm vừa phải thôi, nhưng đến Hàn Mặc Tử và Thâm Tâm thì mình dạy như lên đồng.

Tiếp đến là các tác phẩm thuộc chương trình Văn 12, cảm động làm sao khi được đọc những bài thơ một thời bị lên án là “tiểu tư sản, mộng rớt, buồn rớt, nhắm rớt” như Tây Tiến và Bên kia sông Đuống. Tây Tiến đến giờ ổn định, chỉ riêng Bên kia sông Đuống hồi đó là một văn bản khác bây giờ. Niềm xúc động ấy sau này đã thành những bài luyện tập viết, bài bình thơ. Bài nào khó khăn, riêng Bên kia sông Đuống là giảng thoải mái. Ngoài ra, thơ Hồ Chí Minh cũng có những bài hay và khó! Bên cạnh đó còn là Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu. Phần thơ nước ngoài đặc biệt thích bài Thư gửi Mẹ của Yesenin!

Còn văn xuôi cũng khác đa dạng, phong phú. nhưng ở 11 thích nhất là Đời Thừa của Nam Cao, vì nó gần giống hoàn cảnh của mình điên lên vì xoay tiền, vì con khóc! Thỉnh thoảng còn bắt chước nhân vật giễu nhại, rủ nhau đi nhậu: “Sao có người điên thế, về giữa lúc trời đang đẹp, phố đang đông như thế này”. Nam Cao là tác giả ruột của mình từ đó!

Lớp 12, thích nhất văn của Nguyên Hồng, của Nguyễn Thi, còn Mùa Lạc của Nguyễn Khải thì chỉ chinh phục bởi độ sắc sảo trong dựng tính cách nhân vật. Văn nước ngoài thì thích L.Tolstoi với trích đoạn Cây sồi mùa đông, Hai tâm trạng; thích Banzac với “Lão Gorio”, V.Hugo với “Đêm đại dương”, thích cả M.Twain với Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Dạy văn nhiều tác phẩm nhưng vui và cảm nhận chất văn phong phú! Niềm tự hào, niềm vui của mình càng nhân lên khi có những học sinh giỏi cấp tỉnh, vào đội tuyển quốc gia dù trường Trưng Vương khi đó đã không còn thế mạnh như xưa! Còn có nhiều học trò yêu văn đi theo con đường của thầy hoặc chọn văn chương, báo chí như một sự dấn thân!

2000 – 2006

Sách giáo khoa phân ban chỉnh lý hợp nhất đã có một số sự điều chỉnh, cùng lúc mình chuyển sang trường Chuyên. Có một số tác phẩm trong chương trình thay đổi, nhưng dẫu sao còn khá nguyên vẹn, chỉ cắt một số bài và thêm một số bài mới. Có thêm “Thời và thơ Tú Xương” của Nguyễn Tuân đọc rất thú, bên cạnh Tờ Hoa đọc hoa cả mắt! Chương trình chuyên nên cũng dạy thêm nhiều bài văn ngoài chương trình thú vị. Nhưng cũng ít nhiều khó khăn khi phải giảng những bài có sự điều chỉnh văn bản hoặc cũng đã lược đi những đoạn thú vị. Chẳng hạn Vợ chồng A Phủ lược bỏ hình ảnh hoa anh túc như một chi tiết nghệ thuật đắt giá. Huệ Chi trước lễ cưới đưa vào phần đọc thêm, tuy nhiên học sinh chuyên mình vẫn giảng mà vẫn khiến có học trò phải rưng rưng! Cũng phải thôi, văn Nguyên Hồng nóng, mình đọc còn xúc động mà!

2008 – nay

Sách giáo khoa phân ban là một thảm họa với việc học Văn. Đến giờ có thể khẳng định như thế! Đầu tiên là một loạt các văn bản Hán – Nôm trung đại, văn nghị luận trung đại mà rất khó vận dụng trong đời sống. Đúng ra, các tác phẩm ấy của một thời “Văn – Sử – Triết bất phân” phải được kết hợp với bộ môn Giáo dục Công dân thì may ra mới phong phú. Văn tế Trương Quỳnh Như không còn, thay vào là một loạt văn bản khô khan về cảm xúc, cùng các bản dịch không gì dở hơn (điển hình là dịch Cảm hoài) trong chương trình lớp 10. Sắp xếp lộn xộn theo thể loại chứ không theo tiến trình lịch sử khiến học sinh đã dốt sử càng dốt hơn.

Các văn bản dài bị cắt xén một cách vô tội vạ, tùy ý cụ soạn sách, đến nỗi mình phải kêu lên vì cái tài “thiến” của các vị! Có cảm tưởng như là một chương trình soạn cẩu thả cho kịp tiến độ, thiếu chọn lọc rà soát. Đau nhất là những bài mất hẳn chất văn. Dù rằng, có cái hay là đưa vào những vấn đề Nghị luận xã hội, nhưng các vị quên thực trạng học sinh thành phố điên cuồng lao vào học thêm, không xem ti vi, không xem thời sự, nghe đài báo. Tất cả kiến thức xã hội là từ phía thầy cô dọn sẵn. Nhiều tác phẩm hay, xúc động bị gạt thẳng ra khỏi chương trình. Tiếc nhất là phần văn học nước ngoài không còn Thư gửi Mẹ của Yesenin (2007 mình về dạy vài tháng vẫn còn!),  M.Twain cũng vắng bóng. Nguyên Hồng không còn tác phẩm. Đời thừa chỉ dành cho Ban KHXH. Thơ Hồ Chí Minh còn mỗi Chiều tối và Lai Tân, Tâm tư trong tù của Tố Hữu thay bằng Từ ấy – không giàu tâm trạng và dấu ấn tâm tình tác giả. Bên kia sông Đuống đưa một văn bản què quặt, Kính gửi cụ Nguyễn Du bị cắt… Phần thơ lãng mạn không còn Thâm Tâm với Tống Biệt hành, lại đưa thêm Anh Thơ với một bài thơ thuộc dạng trung bình. Các tác phẩm 45 – 75 phần văn xuôi bị xén vô tội vạ, thậm chí có tác phẩm chẳng còn nhận ra diện mạo như “Những đứa con trong gia đình” hay “Người lái đò sông Đà” vì bị xén nhiều quá – vậy mà phần câu hỏi lại có những ý bị cắt (???). Chỉ có thể nói là những người soạn sách vô trách nhiệm trong khi cân nhắc bỏ đoạn nào, giữ đoạn nào. Đúng ra có thể in toàn bộ tác phẩm, phần nào không học thì in chữ nhỏ, như hồi chỉnh lý hợp nhất. Còn nhớ cu con nhà mình, khi tiếp xúc toàn bộ tác phẩm nói trên của Nguyễn Thi mới vỡ lẽ và thích mê, còn khi học trên trường thì thầy dạy chẳng hiểu gì sất! Học trò có cái lợi hơn là tiếp xúc tác phẩm sau 75 của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thanh Thảo, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu. Nhưng như thế chưa phản ánh đúng diện mạo văn học sau 75! Thảm họa nhỡn tiền khi ngay cả học sinh chuyên cũng học khổ sở, ngao ngán! Khối C vừa rồi thi thử không có một học sinh nào lựa chọn, vì nhiều tác phẩm trích và cắt như thế, còn gì là văn mà các em mê?

Những bài văn hay, những câu thơ xúc động, những tác giả bị loại khỏi chương trình, giờ lưu lạc trong kí ức một thế hệ! Còn e rằng từ nay đến 2015, chương trình văn thế này thì là thảm họa cho tương lai của ngành KHXH nói chung và môn Văn nói riêng!

Chưa bao giờ, cảm giác ngao ngán lại rõ như lúc này! Lãnh đạo nhà trường, công luận, báo chí, phụ huynh cứ kêu ca, có thấu nỗi niềm những người trực tiếp dạy văn?
T.H.N

Sao không là tiếng Việt?


Trong chương trình THPT hiện hành, có một bài học nhan đề : “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà có lẽ nhiều giáo viên khi dạy đã không ý thức một cách đầy đủ nhiệm vụ của mình là “bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt Nam”.
Sẽ phải giật mình vì hiện tại nhiều học trò đến lớp 12, thậm chí cả sinh viên đại học, học viên cao học mà vẫn viết tiếng Việt chưa thông, đầy những lỗi chính tả, ngữ pháp, hành văn trong những văn bản tự tay các em soạn thảo.
Chú tôi, một người đi du học ở Pháp từ năm 1964, có 3 con gái sinh ra ở Pháp, nhưng các em con chú đều đọc thông viết thạo tiếng Việt. Bên đó không dạy chương trình tiếng Việt như một bộ môn tự chọn, với mục tiêu : “
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt ở Pháp”, nhưng các em con của chú đều yêu và tự hào với ngôn ngữ của quê cha đất tổ. Vợ chồng chú thím tôi đều là người Việt, nên các em đều nói tiếng Việt khi về nhà, dù em nào cũng nói tới 3, 4 ngoại ngữ! Tình yêu tiếng mẹ đẻ bắt nguồn từ mỗi gia đình. Bên cạnh việc chú thím tôi cho các em học tiếng Việt ở trong cộng đồng người Việt, ở nhà các em đều được chỉ bảo cặn kẽ cách dùng từ và phong cách diễn đạt Việt Nam. Chú thím là người mang hai quốc tịch, được chính phú Pháp tín nhiệm vì những cống hiến cho nước Pháp, nhưng chú luôn trăn trở việc đóng góp cho quê hương, quan tâm đến dòng tộc. Kể lể dài dòng như vậy để thấy rằng ở quốc gia được xem là cái nôi của nền văn minh châu Âu như Pháp, tình cảm yêu quý và niềm tự hào với ngôn ngữ dân tộc của cộng đồng người Việt không phải do sự can thiệp của Bộ giáo dục mà thành, mà cũng chẳng thể áp đặt lối tư duy như thời thực dân cho con em người Việt để nhận xằng “tổ tiên chúng ta là người Gô-loa”! Việc áp đặt một chương trình dạy học tiếng Hoa của Bộ Giáo dục – Đào tạo cho cộng đồng người Hoa liệu có cần thiết chăng, khi chính con em người Việt đang xa dần ngôn ngữ người Việt, thờ ơ với tiếng mẹ đẻ?
Chính những người thuộc thế hệ trước như chú tôi, mỗi khi trò chuyện với nhau thường than phiền về việc người Việt hiện nay sử dụng tiếng Việt một cách bừa bãi, không theo một chuẩn mực nào. Dượng tôi nguyên là một giáo sư Anh Văn, Pháp Văn nhưng ông cũng rất quan tâm đến việc diễn đạt tiếng Việt, đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc dùng sai qui tắc tiếng Việt và thậm chí đã soạn hẳn một bộ tài liệu về việc viết chữ Việt đúng qui tắc. Chú tôi và dượng tôi, một ông ở trời Tây, một ông ở đất Tổ, không hẹn mà gặp khi bàn luận cùng tôi, một giáo viên dạy Ngữ Văn cấp Trung học Phổ thông, đều gửi gắm ước nguyện giúp học trò nói và viết ngôn ngữ Việt đúng chuẩn. Bản thân tôi, nhiều khi tự hào về vốn liếng tiếng Việt kha khá, đã không thể phản bác trước những chứng cứ về việc dùng sai tiếng Việt ngay trên báo chí chính thống: việc dùng lẫn lộn quy/qui, Tý/Tí; chia sẻ hay san sẻ; bỏ dấu như thế nào là đúng ở chữ hòa/hoà…? Cách dùng từ tại sao lại có kiểu lẫn lộn Ta – Tàu hay kiểu ghép từ liên ba như: Ngư lưới cụ, Nông ngư cơ, phối kết hợp…? Rồi tình trạng lộn xộn trong thuật ngữ chuyên ngành ngôn ngữ: trong tiếng Anh có một loạt các thuật ngữ như giới từ, túc từ, hình dung từ, … hoàn toàn không có sự thống nhất với đơn vị từ tương đương trong tiếng Việt. Tôi toát mồ hôi vì những câu hỏi, chính vì ngay cả Bộ Giáo dục – Đào tạo cũng chưa hề có một qui chuẩn thống nhất trình qua Quốc hội để thông qua. Có những điều bản thân tôi được dạy thời đại học trong phần ngôn ngữ đại cương rằng vì phiên âm quốc tế giống nhau nên dùng quy/qui đều được… Nghĩa là có bao điều trong tiếng Việt chưa hề chuẩn mà chính chúng tôi nhiều khi dạy theo thói quen cũng dễ dàng bỏ qua. Có lúc tôi đã cố cãi trường hợp dùng từ: chia sẻ/ chia xẻ là tùy trường hợp và căn cứ vào sự phát triển ngôn ngữ Việt như một sinh ngữ thì phải chấp nhận sự phát triển và cả thói quen, trong khi cả chú và dượng tôi đều nhất trí phải dùng từ đúng là “chia xẻ”! Trong các tài liệu gần đây, tôi đã cố tìm mà chưa thấy cứ liệu nào để nói lai cho rõ!
Tiếng Việt đáng lẽ phải là ưu tiên hàng đầu và cần phải được qui chuẩn là việc nên làm lúc này của Bộ. Đã gọi là chuẩn thì từ cấp tiểu học cho đến các cấp học cao hơn, từ người dân thường đến các cơ quan truyền thông báo chí, giới văn chương học thuật cần phải tuân theo. Điều đó cần thiết hơn là biên soạn chương trình dạy tiếng của một dân tộc khác cho một cộng đồng dân tộc, trên một đất nước có tới 54 dân tộc! Tiếng Việt phổ thông chưa chuẩn, vậy tiếng dân tộc thiểu số có chuẩn chăng, mà như vậy thì làm sao
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng dân tộc đó, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người dân tộc đó ở Việt Nam? Tiếng Việt ta không chú ý giữ gìn, để phát triển tự do, theo thói quen muốn đọc sao cũng được thì gay go to! E rằng, đến một lúc bảng chữ cái tiếng Việt không đọc là : a, bờ, cờ, dờ, đờ … hay a, bê, xê, dê, đê… mà thành ay, bi, xi, đi hay lai thêm vài kiểu diễn đạt teen nX: bùn wá! Khân bít lèm seo!