Bộ sưu tập

Kỉ niệm 5 năm ngày mất của thầy Trương Tham


Ngày 4/4/ Đinh Dậu (29/4/2017), thầy Trương Tham  đi xa được 5 năm, nhưng những gì thầy để lại vẫn là nguồn động viên rất lớn với các thế hệ học sinh. Những học sinh cũ của thầy xin trân trọng giới thiệu bài viết trong công trình bình thơ của thầy, như một nén tâm hương tưởng nhớ!

CÒN CÓ BAO GIỜ EM NHỚ TA ?
(Đọc Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Duõng)
Sau “ Trăm năm mất nước mất nhà”, chúng ta vừa giành được độc lập thì giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta. Trở lại thời kỳ nô lệ cũ, hay đứng lên để bảo vệ độc lập tự do ? Đó là câu hỏi của moãi người, của cả dân tộc ta lúc bấy giờ. Nhân dân ta thống nhất một lòng “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất đònh không chòu mất nước, nhất đònh không chòu làm nô lệ”. Tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh ấy đã làm nên khí thế ngất trời của dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp với “Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi”… “Ngày hăm ba ta ra đi”…”Chiến trường đi chẳng tiếc trời xanh”… Những chiến thắng đầu mùa của cuộc kháng chiến làm nức lòng nhân dân cả nước, làm nở rộ một mùa thơ. Riêng năm 1948 hàng loạt bài thơ hay cùng xuất hiện: chùm thơ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đồng chí (Chính Hữu); Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm); Lên Tây Bắc (Tố Hữu); Tây Tiến (Quang Dũng)… và Đất nước của Nguyễn Đình Thi cũng bắt đầu từ năm đó. Một năm sau, một bài thơ hay khác của Quang Dũng tiếp tục ra đời: Đôi mắt người Sơn Tây. Sau khi ra đời bài thơ được phổ nhạc. Người ta đọc, người ta thuộc, người ta hát bài thơ… trong nhưõng hoàn cảnh thật khác nhau của cuộc sống. Hơn năm mươi năm qua rồi, cho đến ngày nay bài thơ vaãn có sức mê dụ lòng người. Một bài thơ như thế không nhiều trong thơ ca.
Bài thơ bắt đầu, từ chuyện gặp gỡ bất ngờ giữa một người lính với một cô gái cùng quê trên một nẻo đường của cuộc kháng chiến:
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Xa cách, biệt ly trong những ngày binh lửa, thương nhớ xót đau vì quê hương bị giặc tàn phá giết chóc, để rồi cùng ước mơ về một ngày mai trở về trong cuộc sống thanh bình của đất nước. Đó cũng là nội dung thường gặp trong nhiều bài thơ kháng chiến đương thời. Một câu hỏi từng làm trăn trở noãi lòng bạn đọc: – lý do nào bài thơ chiếm được sự yêu thích của mọi người và có sức sống với thời gian như thế ?
Trong thơ Quang Dũng có khi vẻ đẹp hiện ra trực diện, chắc khỏe giàu chất tạo hình. Nhưõng câu thơ như hằn lên đường nét sắc cạnh sống động, đọc rổi thật khó quên.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
(Tây Tiến)
Viết về dốc Pha Đin :
Lên thì “cổng trời” xuống vực thẳm
Uốn quanh đá trắng lượn vòng thang
Ngựa thồ đỉnh dốc nhỏ như kiến
Đi trong đường mây rắc bụi vàng
Những chiến binh Tây Tiến thì “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc” còn những người lính đánh Mỹ sau này:
Hãy nghỉ tay chèo và gấp lưới
Bữa riêu thơm khói bếp nhà chài
Ăn vội
Trống tập trung
Vang vọng bãi Lương Tuyền
Mẹ tiễn qua sông
Bến Mộc gặp trăng lên
(Bất Bạt đêm giao quân)
Với những câu thơ thật sự là thơ:
Tiếng rừng đâu phải tiếng tiều phu
Nhát búa Sơn tràng rơi vắng lặng
(Rừng)
Mặt khác, những vẻ đẹp lại ẩn hiện trong một không gian xa mờ sương khói phảng phất một nét buồn bâng khuâng cổ kính của ngàn xưa. “Những làng ta đi qua” trong ngày giáp tế:
Tháng chạp màn sương trùm đất nước
… Tiếng nêu đưa khách dưới mưa phùn
Vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc với đoàn binh Tây Tiến:
… Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
… Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Noãi nhớ thương ngăn cách “đôi bờ” “Sông xa từng lớp lớp mưa dài”. Người đẹp hiện lên trong bóng dáng bảng lảng “Có nhớ dáng người trên độc mộc” “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”… “Thoáng hiện em về trong đáy cốc”. Đọc câu thơ “chiều xanh không thấy bóng Ba Vì” làm sao không nhớ “Nhật mộ hương quan hà xứ thị”.. Dẫu cả một bầu trời ngút ngát một màu xanh, không có bóng hoàng hôn che khuất, cũng không sao nhìn thấy bóng núi quê nhà, Không phải sương trời mưa trắng, “Đôi mắt người Sơn Tây” như có một lớo sương buồn dâng lên tỏa ra bao trùm cả bài thơ; khi tha thiết vấn vương, khi bâng khuâng diệu vợi, khi gần như trước mắt, khi xa như cánh chim vừa mất hút ở cuối trời. Lớp sương buồn ấy tỏa ra như một bức màn che phủ vẻ đẹp cứng cỏi của bài thơ. Đôi mắt người Sơn Tây xâm nhập vào người đọc trước hết là một cảm xúc buồn tha thiết, bâng khuâng rất khó định hình, cứ bồng bềnh phiêu lãng như những đám “mây đầu ô”, Không khí ấy phù hợp với nỗi niềm thương nhớ xưa nay của con người. Trong cuộc sống một số ít người chỉ nhìn vào lớp mờ sương ấy mà ngộ nhận giá trị của bài thơ. Chả lẽ, trong hoàn cảnh binh lửa loạn ly, quê hương bị giặc tàn phá, đồng bào bị giết hại mà vui cười hay sao? Nỗi buồn trong bài thơ là nỗi buồn cần có, cao quý và trong sáng. Chả thế, xưa nay những tác phẩm viết về nỗi đau buồn chân chính của con người thường được con người ưa thích. Vấn đề chính là ở chỗ xử lý nỗi đau buồn ấy như thế nào? Phía sau lớp sương buồn ấy những vẻ đẹp khác của bài thơ lần lượt hiện ra.
Thơ xưa nay dù bay bổng, lãng mạn đến đâu đều có chung điểm xuất phát đó là sự chân thực. Nhà thơ bày tỏ cảm xúc thái độ của mình trước nhưõng sự thực tiêu biểu của đời sống. Có một hiện thực mà thơ ca đương thời hay né tránh: đó là sự chết chóc hy sinh, điều đó có lý do lịch sử của nó, nhưng sự thực vẫn là sự thực. Vượt qua chỗ khó khăn này nhà thơ nhìn thẳng vào hiện thực đau thương của quê hương, của dân tộc trong chiến tranh. Trong bài thơ “Tây Tiến” nhà thơ đã viết nhiều về sự hy sinh của các chiến binh trên con đường trường chinh ngàn dặm “gục lên súng muõ bỏ quên đời”… “rải rác biên cương mồ viễn xứ” “áo bào thay chiếu anh về đất…” Trong “Những làng ta đi qua” “màu đông in dấu giày đinh giặc”… “chiếc tã đầu giường đang cháy dở”… Trong nhiều bài thơ khác cuõng như “Đôi mắt người Sơn Tây”, bên cạnh nét hào hùng của cuộc kháng chiến nhà thơ tiếp tục khai thác hiện thực tiêu biểu này:
Mẹ tôi em có gặp đâu không
Nhưõng xác già nua ngập cánh đồng
Tôi nhớ thằng em trai bé nhỏ
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông
Cứ từ “tôi” mà nhân lên, loang ra cả một vùng quê “hoang bóng giặc”;Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn” nhiều ca khúc nổi tiếng đương thời được nhân dân yêu thích cũng viết về hiện thực ấy. Bên cạnh sự hào hùng oanh liệt là noãi đau thương “ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừn g”… “máu xương đắp nền châu Bắc Sơn” (Bắc Sơn – Văn Cao)… “Trung Nẫm đồng vắng lối không. Xót thương đàn em xác chìm dòng sông…” (Bình Trị Thiên khói lửa – Nguyễn Văn Thương). Đó là sự thực về tội ác của giặc, về nỗi đau đớn tận cùng của nhân dân ta, nhưng cũng là sự thực kiêu hùng oanh liệt của cả một dân tộc, chấp nhận hy sinh xương máu, quê hương thân yêu của mình để làm lại một quê hương mới trong độc lập tự do. Đó là yếu tố tiêu biểu cao quý, anh hùng nhất để làm nên chiến thắng vinh quang. Nhân dân dám làm sao thơ ca không dám viết? Nhân dân có quyền được thấy đúng mình, chính mình trong văn chương. Không phải chuyện chết chóc mà viết thế nào về sự thực ấy? Đau thương đến tận cùng “Đất đá ong khô nhiều suối lệ”. Buồn thương tiếc “khôn khuây” mà không gục ngã. Biết có “bao giờ trở lại đồng Bương Cấn, về núi Sài Sơn ngó lúa vàng…” mà vẫn nhắm thẳng đến ngày mai “thanh bình rộn tiếng ca” để ra đi. Đó chính là phẩm chất kiên cường, kiêu dũng của những chiến binh Tây Tiến được biểu hiện dưới một hình thức khác. Là một bức ảnh về nỗi đau buồn của chiến tranh nhưng cũng là những chứng tích của tình người đối với quê hương đất nước. Có một số bài thơ đương thời viết cả một giai đoạn dài của cách mạng. Viết rất hay về những gian khổ, hào hùng oanh liệt, tình người trong nhưõng gian khổ ấy, nhưng không hề có sự hy sinh máu xương. Không ai yêu cầu phải đưa đủ mọi chuyện vào trong một bài thơ. Nhưng cả một giai đoạn dài của cách mạng làm nên chiến thắng lại thiếu đi yếu tố cao cả nhất của nó là sự hy sinh, bài thơ như thiếu vắng một điều gì đáng tiếc.
Đaõ có bao nhiêu người viết về quê hương, Quang Duõng nhớ về quê hương với nhưõng hình ảnh thật bình dò. Một màu mây trắng ở khung trời quê hương. Sắc lúa vàng ở cái tên cụ thể của một vùng quê, cứ như màu vàng riêng của đấy ấy… Dòng sông lững lờ lưu luyến như không muốn trôi đi… với tiếng sáo diều trong đêm trăng thanh vắng. Bình dò mà thật cao sang tinh tế. Cảnh vật tỏa ra một không khí êm đềm mà mãnh liệt. Bởi “tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm” thì không còn là mây của tạo hóa. Nhà thơ viết về quê hương với tấm lòng “không có nơi nào đẹp bằng quê hương của chính mình”. Thơ trước hết là tâm trạng. Trong xa xôi cách biệt, mắt người lính ngóng về quê hương. Lòng người lính thổn thức nhớ quê hương với bao trăn trở lo âu:
… Mẹ tôi em có gặp đâu không
… Tôi nhớ thằng em trai bé nhỏ
Nỗi đau đến tận cùng “Đất đá ong khô nhiều suối lệ”. Cả đoạn thơ nhịp thơ gấp gáp, với những câu hỏi dồn dập thổn thức, rồi từ từ hạ xuống với những câu thơ năm chứ, nhạc thơ dịu buồn như để cho cảm xúc đọng lại:
Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
Nhà thơ mong nhớ hình ảnh quê hương xa xôi, mờ khuất rồi như chợt nhận ra quê hương đang ở bên mình. Vẻ đẹp của quê hương hiện ra trong khuôn mặt, đôi mắt của người em gái quê hương vừa gặp. Đôi mắt trong bài thơ với bao sắc thái:
…Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

…Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
…Em đã bao ngày em nhớ thương ?
… Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng…
Quê hương như hòa nhập vào gương mặt, đôi mắt của người em gái – quê hương như tạo dáng cho nàng. Sự hòa nhập kỳ thú đó đã tạo nên sắc thái thẩm mỹ độc đáo của bài thơ. Hình ảnh “Đôi mắt người Sơn Tây” trở thành một biểu tượng nghệ thuật, cứ như đau đáu thiết tha ám ảnh mãi hồn người. Sau này thần đồng Trần Đăng Khoa viết bài “Hạt gạo làng ta” cũng theo phong cách ấy. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong chương Đất Nước của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”, lại sáng tạo ra một cách hòa nhập mới theo quy trình ngược lại – cuộc sống và hồn người đã tạo dáng cho núi sông.
Những người vợ góa chồng còn góp cho Đất nước những hòn Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Những sáng tạo ấy của các nhà thơ đã đem đến cho người đọc một cách nhìn và những cảm nhận mới về quê hương đất nước “Đôi mắt người Sơn Tây” đã nhìn thấu nỗi đau tận cùng của quê hương đất nước “để hành động để ra đi” tới ngày mai tươi sáng:

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca
Đã hết sắc màu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta ?
Ước mơ của người lính cũng là ước mơ muôn đời của dân tộc. Cả đoạn thơ như một ngọn gió bay bổng thổi mát tâm hồn con người giưõa nhưõng ngày khói lửa của cuộc chiến đấu. Một ước mơ tha thiết đến nao lòng “Bao giờ” như một nốt nhấn trở lại trong đoạn thơ. Bao giờ được trở về với nhưõng kỷ niệm đaõ qua của quê hương. Bao giờ trở về trong ngày vui thanh bình của đất nước ? “Bao giờ” là thời gian nhưng bao giờ còn có ý nghĩa: – còn có bao giờ trở về trong ngày vui ấy không? Đối với những người đã chinh chiến ai dám trả lời chắc chắn. Nhưng dù có bao giờ hay không vẫn cứ tin tưởng, ước mơ. Có ước mơ này thật xúc động:
Còn có bao giờ em nhớ ta ?
Em là người em gái từng gặp năm xưa trong nhưõng ngày khói lửa. Em cũng là quê hương. Người trai ra lính, chẳng biết có trở về hay không mà vaãn ước mơ được quê hương thương nhớ. Thường chỉ có tình yêu trai gái chân thật, thiết tha mới thiết tha mong được biết tấm lòng của đối phương đến thế. Nhà thơ đã yêu “xứ Đoài mây trắng” bằng tình yêu say nồng ấy. Đau tận cùng với nỗi đau của quê hương, yêu tận cùng đắm say với mảnh đất quê hương. Tình yêu nồng nàn sâu sắc ấy, làm nên chất nồng nàn không bao giờ phai nhạt của bài thơ.
Chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng bất kỳ thời nào cái hay, cái đẹp chân chính cũng được con người ưa chuộng, “Đôi mắt người Sơn Tây” đã đạt tới những vấn đề lớn mà thời nào con người cũng quan tâm. Nhà thơ đã tạo được một không khí thẩm mỹ phù hợp với nỗi nhớ niềm thương của con người muôn thuở. Một dân tộc từng đi qua biết bao noãi đoạn trường, bài thơ giúp chúngta hiểu được một ngày thanh bình được sống hôm nay. Nếu nói hạnh phúc là được nhìn thấy ước mơ trở thành hiện thực thì Quang Dũng là nhà thơ hạnh phúc – Nhà thơ đã chứng kiến ngày vui thanh bình của đất nước và biết bao tấm lòng bạn đọc yêu mến ông.

TRƯƠNG THAM

Đôi Mắt Người Sơn Tây
Tác giả: Quang Dũng

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s