Những bài văn …


Tính từ khi mình đi dạy đến nay, đã mấy phen rồi thay đổi trong sách giáo khoa!

1994 – 1999

Niềm hạnh phúc khi bắt đầu đi dạy cũng là lúc mình phải vật lộn với những tác phẩm hoàn toàn khác so với thời mình đi học. Nhớ nhất ngày ấy là khi dạy những bài thuộc chương trình lớp 11, phần Thơ Mới. Ngày xưa, khi đi học, phần này được đánh giá là “Văn học lãng mạn bạc nhược, suy đồi”. Khi học Đại học, đã thấy có sự thay đổi trong đánh giá, nhưng về tác phẩm không được tiếp xúc bao nhiêu ngoài những tác phẩm tự tìm mà đọc của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử. Còn khi đi dạy, mình lại tiếp xúc với thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thâm Tâm. Xuân Diệu và Huy Cận thì mình cảm vừa phải thôi, nhưng đến Hàn Mặc Tử và Thâm Tâm thì mình dạy như lên đồng.

Tiếp đến là các tác phẩm thuộc chương trình Văn 12, cảm động làm sao khi được đọc những bài thơ một thời bị lên án là “tiểu tư sản, mộng rớt, buồn rớt, nhắm rớt” như Tây Tiến và Bên kia sông Đuống. Tây Tiến đến giờ ổn định, chỉ riêng Bên kia sông Đuống hồi đó là một văn bản khác bây giờ. Niềm xúc động ấy sau này đã thành những bài luyện tập viết, bài bình thơ. Bài nào khó khăn, riêng Bên kia sông Đuống là giảng thoải mái. Ngoài ra, thơ Hồ Chí Minh cũng có những bài hay và khó! Bên cạnh đó còn là Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu. Phần thơ nước ngoài đặc biệt thích bài Thư gửi Mẹ của Yesenin!

Còn văn xuôi cũng khác đa dạng, phong phú. nhưng ở 11 thích nhất là Đời Thừa của Nam Cao, vì nó gần giống hoàn cảnh của mình điên lên vì xoay tiền, vì con khóc! Thỉnh thoảng còn bắt chước nhân vật giễu nhại, rủ nhau đi nhậu: “Sao có người điên thế, về giữa lúc trời đang đẹp, phố đang đông như thế này”. Nam Cao là tác giả ruột của mình từ đó!

Lớp 12, thích nhất văn của Nguyên Hồng, của Nguyễn Thi, còn Mùa Lạc của Nguyễn Khải thì chỉ chinh phục bởi độ sắc sảo trong dựng tính cách nhân vật. Văn nước ngoài thì thích L.Tolstoi với trích đoạn Cây sồi mùa đông, Hai tâm trạng; thích Banzac với “Lão Gorio”, V.Hugo với “Đêm đại dương”, thích cả M.Twain với Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer. Dạy văn nhiều tác phẩm nhưng vui và cảm nhận chất văn phong phú! Niềm tự hào, niềm vui của mình càng nhân lên khi có những học sinh giỏi cấp tỉnh, vào đội tuyển quốc gia dù trường Trưng Vương khi đó đã không còn thế mạnh như xưa! Còn có nhiều học trò yêu văn đi theo con đường của thầy hoặc chọn văn chương, báo chí như một sự dấn thân!

2000 – 2006

Sách giáo khoa phân ban chỉnh lý hợp nhất đã có một số sự điều chỉnh, cùng lúc mình chuyển sang trường Chuyên. Có một số tác phẩm trong chương trình thay đổi, nhưng dẫu sao còn khá nguyên vẹn, chỉ cắt một số bài và thêm một số bài mới. Có thêm “Thời và thơ Tú Xương” của Nguyễn Tuân đọc rất thú, bên cạnh Tờ Hoa đọc hoa cả mắt! Chương trình chuyên nên cũng dạy thêm nhiều bài văn ngoài chương trình thú vị. Nhưng cũng ít nhiều khó khăn khi phải giảng những bài có sự điều chỉnh văn bản hoặc cũng đã lược đi những đoạn thú vị. Chẳng hạn Vợ chồng A Phủ lược bỏ hình ảnh hoa anh túc như một chi tiết nghệ thuật đắt giá. Huệ Chi trước lễ cưới đưa vào phần đọc thêm, tuy nhiên học sinh chuyên mình vẫn giảng mà vẫn khiến có học trò phải rưng rưng! Cũng phải thôi, văn Nguyên Hồng nóng, mình đọc còn xúc động mà!

2008 – nay

Sách giáo khoa phân ban là một thảm họa với việc học Văn. Đến giờ có thể khẳng định như thế! Đầu tiên là một loạt các văn bản Hán – Nôm trung đại, văn nghị luận trung đại mà rất khó vận dụng trong đời sống. Đúng ra, các tác phẩm ấy của một thời “Văn – Sử – Triết bất phân” phải được kết hợp với bộ môn Giáo dục Công dân thì may ra mới phong phú. Văn tế Trương Quỳnh Như không còn, thay vào là một loạt văn bản khô khan về cảm xúc, cùng các bản dịch không gì dở hơn (điển hình là dịch Cảm hoài) trong chương trình lớp 10. Sắp xếp lộn xộn theo thể loại chứ không theo tiến trình lịch sử khiến học sinh đã dốt sử càng dốt hơn.

Các văn bản dài bị cắt xén một cách vô tội vạ, tùy ý cụ soạn sách, đến nỗi mình phải kêu lên vì cái tài “thiến” của các vị! Có cảm tưởng như là một chương trình soạn cẩu thả cho kịp tiến độ, thiếu chọn lọc rà soát. Đau nhất là những bài mất hẳn chất văn. Dù rằng, có cái hay là đưa vào những vấn đề Nghị luận xã hội, nhưng các vị quên thực trạng học sinh thành phố điên cuồng lao vào học thêm, không xem ti vi, không xem thời sự, nghe đài báo. Tất cả kiến thức xã hội là từ phía thầy cô dọn sẵn. Nhiều tác phẩm hay, xúc động bị gạt thẳng ra khỏi chương trình. Tiếc nhất là phần văn học nước ngoài không còn Thư gửi Mẹ của Yesenin (2007 mình về dạy vài tháng vẫn còn!),  M.Twain cũng vắng bóng. Nguyên Hồng không còn tác phẩm. Đời thừa chỉ dành cho Ban KHXH. Thơ Hồ Chí Minh còn mỗi Chiều tối và Lai Tân, Tâm tư trong tù của Tố Hữu thay bằng Từ ấy – không giàu tâm trạng và dấu ấn tâm tình tác giả. Bên kia sông Đuống đưa một văn bản què quặt, Kính gửi cụ Nguyễn Du bị cắt… Phần thơ lãng mạn không còn Thâm Tâm với Tống Biệt hành, lại đưa thêm Anh Thơ với một bài thơ thuộc dạng trung bình. Các tác phẩm 45 – 75 phần văn xuôi bị xén vô tội vạ, thậm chí có tác phẩm chẳng còn nhận ra diện mạo như “Những đứa con trong gia đình” hay “Người lái đò sông Đà” vì bị xén nhiều quá – vậy mà phần câu hỏi lại có những ý bị cắt (???). Chỉ có thể nói là những người soạn sách vô trách nhiệm trong khi cân nhắc bỏ đoạn nào, giữ đoạn nào. Đúng ra có thể in toàn bộ tác phẩm, phần nào không học thì in chữ nhỏ, như hồi chỉnh lý hợp nhất. Còn nhớ cu con nhà mình, khi tiếp xúc toàn bộ tác phẩm nói trên của Nguyễn Thi mới vỡ lẽ và thích mê, còn khi học trên trường thì thầy dạy chẳng hiểu gì sất! Học trò có cái lợi hơn là tiếp xúc tác phẩm sau 75 của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thanh Thảo, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu. Nhưng như thế chưa phản ánh đúng diện mạo văn học sau 75! Thảm họa nhỡn tiền khi ngay cả học sinh chuyên cũng học khổ sở, ngao ngán! Khối C vừa rồi thi thử không có một học sinh nào lựa chọn, vì nhiều tác phẩm trích và cắt như thế, còn gì là văn mà các em mê?

Những bài văn hay, những câu thơ xúc động, những tác giả bị loại khỏi chương trình, giờ lưu lạc trong kí ức một thế hệ! Còn e rằng từ nay đến 2015, chương trình văn thế này thì là thảm họa cho tương lai của ngành KHXH nói chung và môn Văn nói riêng!

Chưa bao giờ, cảm giác ngao ngán lại rõ như lúc này! Lãnh đạo nhà trường, công luận, báo chí, phụ huynh cứ kêu ca, có thấu nỗi niềm những người trực tiếp dạy văn?
T.H.N

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Cái Đẹp trong xiềng gông!?


Giảng dạy bao nhiêu năm bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tuôn ra không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp về đối lập Bóng tối – Ánh sáng, về hiện thân của cái Tài – cái Đẹp – cái Thiên lương, bị ám không ít bởi bài viết của thầy Nguyễn Đăng Mạnh hết lời ca ngợi con người vô úy… Thế nhưng, khi tự mình đọc lại tác phẩm, mới thấy một tình tiết đáng suy ngẫm, không dám phán bừa mà từ sự cẩn trọng cần thiết của cái gọi là “hoài nghi khoa học”, viết để cùng trao đổi với những người quan tâm.

Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ được  nhiều người tâm đắc. Bản thân tôi từng giảng say sưa về “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khi Huấn Cao – người tử tù – đang dồn hết tâm lực viết những dòng chữ cuối cùng trên “tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Đó là thời điểm để cho ba con người – ba đốm sáng nhỏ cô đơn hội tụ trong tình yêu cái Đẹp… Nét chữ của Huấn Cao là hiện thân của “hoài bão tung hoành một đời con người” để cho một người cả đời sống trong bóng tối và sự sợ hãi đã  được đón nhận trọn vẹn Cái Đẹp ấy trong khoảnh khắc thốt lên lời nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”…
Có nghĩa là theo chiều hướng phân tích xưa nay, tác phẩm là một đỉnh cao tư tưởng Nguyễn Tuân, hàm chứa quan niệm Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám về Cái Đẹp. Cụ Nguyễn được tán tụng nhiều, nên có lẽ khi nghe phản biện này không biết Cụ có về vặn cổ thằng lắm chuyện hậu sinh này không? Nhưng không nói ra thì ấm ức, mà cũng chưa thấy ai nói! Thôi thì có bị chửi là dốt, là ngạo mạn như Trần Đăng Khoa cũng đành!!!
Đoạn khiến cho kẻ hậu sinh này băn khoăn là khi nhà văn đặc tả Huấn Cao trong vai trò người nghệ sĩ sáng tạo cái Đẹp: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồngtiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…“.
Bây giờ đọc kĩ, ngẫm lại, thấy sao mà người-sáng-tạo-Cái-Đẹp bị đối xử một cách tàn tệ đến thế! Vì trước đó, viên quản ngục được biết đến như là người có “lòng biết giá người, biết trọng người ngay”, đã từng bị Huấn Cao xua đuổi mà chỉ biết im lặng lui ra với lời “Xin lĩnh ý”! Nhân vật này cũng từng tự biết mình khi so với Huấn Cao “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”! Ông ta cũng biết để có chữ của Huấn Cao cho thỏa sở nguyện thì không thể dùng quyền lực hay dụ dỗ mà có được nên rất khổ tâm…
Ấy vậy mà trong buổi tối cuối cùng, viên quan coi ngục kia lại để tâm hết vào nét cỉhữ Huấn Cao mà quên khuấy phải đối xử thật sự trọng thị với người cho chữ. Ông ta chỉ quan tâm đến nét chữ – “báu vật trên đời” mà để cho người nghệ sĩ sáng tạo vẫn phải “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”! Quả là một tình tiết vô lý, nếu như không muốn nói là vô đạo, trong hoàn cảnh chỉ có ba người: Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại trong căn buồng nhà ngục! Phải hiểu ra sao dụng ý của cụ Nguyễn Tuân đây?
Thử đưa ra vài cách cắt nghĩa:
– Cụ Nguyễn muốn “tô đậm nét độc đáo phi thường” nhấn mạnh bằng thủ pháp đối lập Cái Đẹp với Cái Xấu, Tội ác… nên sẵn sàng tạo một khung cảnh đối lập con người – hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn, bất chấp thực tế!
– Cụ Nguyễn muốn nói lên tình trạng sáng tác của người nghệ sĩ trong chế độ thực dân phong kiến, sáng tạo cái Đẹp trong gông xiềng, nhưng không muốn cái Đẹp tồn tại trong nhà ngục (như lời Huấn Cao nói ở phần sau: “Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”).
Nếu lí giải theo cách đó, có lẽ sẽ đẹp lòng những ai muốn đề cao Huấn Cao, đề cao Cái Đẹp! Nhưng nếu như vậy thì ta phải đánh giá ra sao đây về nhân vật quản ngục?
Ông ta là người đứng đầu bộ máy đàn áp, là kẻ có thừa mánh khóe và luôn cẩn trọng trong công việc mẫn cán của một viên quan coi ngục. Thử xem ban đầu ông ta sợ hãi tái mặt như thế nào khi nghe lời nói buột miệng của thầy thơ lại: “Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn.”. Đối xử với tù, ông ta cũng cùng một giuộc với bọn lính cậy quyền uy. Bằng chứng thầy tớ hiểu nhau là khi “Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra” (nhưng hôm ấy lại là Huấn Cao – người sở hữu “báu vật” – nên ông ta đối xử khác ngày thường mà thôi!). Thủ đoạn của viên quan coi ngục này cao hơn nhiều, khi ngày ngày dâng rượu thịt cho Huấn Cao xơi (nhưng hậu quả là bị bẽ mặt khi dùng trò mua chuộc bị Huấn Cao lật mặt!). Cuối cùng, vì sự thèm khát có nét chữ Huấn Cao, viên quản ngục này đã bất chấp cả phép nước, cùng đồng phạm là thầy thơ lại táo gan xin chữ Huấn Cao trong nhà ngục – một hành động có thể mất đầu! Huấn Cao hoặc là ngây thơ, hoặc là không thèm chấp, hoặc là bao dung với quản ngục, vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục mà bỏ qua không thèm đếm xỉa gông trên cổ và xiềng dưới chân mình! Trớ trêu và bi hài thay cho người nghệ sĩ vào phút sáng tạo cuối cùng của mình đã giao báu vật cho một kẻ vô đạo, lại nói với hắn những lời như tri âm tri kỉ!
Nhiều người say sưa với ý tưởng đề cao quản ngục như là người biết yêu Cái Đẹp thật sự, thậm chi cho rằng hành động chắp tay cảm động thốt ra lời “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!” chẳng khác nào cái chắp tay của Chu Thần Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu chắp tay trước hoa mai). Giả sử không có cái chi tiết cụ Nguyễn Tuân đưa vào “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng…” thì kẻ viết bài này cũng tin như thế! Còn chi tiết này tồn tại trong tác phẩm thì xin phép tất cả những ai yêu mến đề cao viên quản ngục mà thốt lên rằng : viên quản ngục này là một thằng đểu thượng thừa!
Bởi nếu là một người đã thật sự vượt qua sự sợ hãi quyền uy và tội ác,  thật sự hết lòng vì Cái Đẹp, thì trước hết phải đối đãi với Huấn Cao như với một kẻ sĩ thật sự! Chua chát thay, một kẻ như vậy mà lại là “biết đọc vỡ nghĩa sách Thánh Hiền” sao? Tất nhiên trong hoàn cảnh ấy, không thể mời Huấn Cao về nhà mà khoản đãi rượu thịt, đốt trầm thắp bạch lạp cho Huấn Cao viết chữ, vì có thể làm cho tội vào thân mà chữ cũng mất! Nhưng nơi nhà ngục, ông ta có toàn quyền sinh sát, có thể tháo gông mở xiềng, sao ông ta không làm? Chỉ có thể kết luận: đến giờ phút ấy, ông ta vẫn là một ngục quan cẩn trọng, sợ phép nước, có biến cố gì thì có thể phủi tay chối tội! Còn được nét chữ Huấn Cao rồi, tiếc gì vài giọt nước mắt cá sấu mà không nhỏ ra cho đẹp tư thế người “biệt nhỡn liên tài”? Không thể nghĩ khác được: đây là kẻ có thủ đoạn đối nhân xử thế bậc thầy, không chỉ lừa được Huấn Cao, lừa thầy thơ lại mà lừa…cả bao người đọc dễ tính! Không biết cụ Nguyễn có định dựng chân dung một ngụy quân tử ở viên quản ngục không mà để cái chi tiết Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ”
Cụ Nguyễn viết về thú chơi thư pháp, ắt hẳn phải biết đầy đủ những nghi lễ thư pháp đích thực để có nét chữ thể hiện trọn vẹn thần thái khí phách người viết chữ! Hay cụ cũng muốn phút giây ấy Huấn Cao chơi ngông không thèm tháo gông mở xích? Liệu nét chữ ra đời trong khi cổ vướng gông, chân vướng xiềng có thể thỏa chí tung hoành không?
Một chi tiết như vậy tồn tại trong văn bản, nếu như cụ Nguyễn Tuân muốn đề cao quản ngục và Huấn Cao, thì tiếc thay, “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”!
TRẦN HÀ NAM

Truyền kỳ mạn lục – Nguyễn Tự


Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề văn xuôi tự sự trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi có một số thu hoạch nhỏ xoay quanh một tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn: tác phẩm Truyền kỳ mạn lục sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XVI của tác giả Nguyễn Tự  – 阮 嶼 (căn cứ vào những cứ liệu xác đáng về tên tác giả, chúng tôi ủng hộ ý kiến của PGS.TS Nguyễn Đăng Na và các nhà nghiên cứu đồng quan điểm là phải trả lại đúng tên gọi cho tác giả, không theo thói quen lâu nay gọi tên ông là Nguyễn Dữ!). Truyền kỳ mạn lục được mệnh danh là áng “thiên cổ kỳ bút” trong truyện ngắn trung đại Việt Nam, và đây cũng là tác phẩm văn xuôi chữ Hán thu hút được sự  quan tâm của giới phê bình nghiên cứu văn học trung đại. Việc đánh giá về giá trị của tác phẩm này cũng có nhiều xu hướng khác nhau, nhiều phương pháp tiếp cận tổng thể cũng như phân tích đánh giá sâu vào một tác phẩm. Tìm hiểu một loạt các tài liệu, chúng tôi đặc biệt tâm đắc với ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Na về Truyền kỳ mạn lục, khẳng định giá trị độc đáo riêng biệt của tác phẩm : “Nếu Lê Thánh Tông hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh thì Nguyễn Tự đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ. Nhờ đó mà Nguyễn Tự đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại. Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Tự đi tìm giải pháp xã hội: Con người phải sống ra sao để vươn tới hạnh phúc, để nắm bắt được hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở đâu: trên trần gian này hay miền tiên giới, cõi thiên tào hay nơi thủy cung…? Đối với người đàn ông, hạnh phúc là gì và đối với người phụ nữ, như thế nào là hạnh phúc? Nguyễn Tự đưa ra nhiều giả thiết bằng những cuộc thử nghiệm, nhưng tất cả đều bế tắc. Đó là thông điệp cuối cùng ông để lại cho người đọc…” (Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ so sánh văn học – Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, tr.216). Ý kiến ngắn gọn nhưng khá đầy đủ này đã gợi hứng và mang tính chất định hướng đúng đắn với những người đang dạy phổ thông khi  tiếp xúc với tác phẩm này. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ xin nêu những suy nghĩ của bản thân một hướng tiếp cận để giảng dạy tốt hơn phần Truyền kỳ mạn lục trong trường phổ thông.

Với vai trò là “người mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại”, Nguyễn Tự cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc. Điều bức xúc nhất hiện nay là mặc dù tên gọi của ông đã được minh chứng một cách khoa học từ hàng mấy chục năm nay nhưng thế hệ học sinh thời phân ban, cải cách vẫn phải viết tên ông là Nguyễn Dữ. Đó là một điểm bất hợp lý và thiếu khoa học. Mặc dù, ở phần chú thich sách giáo khoa đã có chú thích nhưng xem ra không mấy giáo viên dũng cảm dám thừa nhận tên gọi này, học sinh làm bài vẫn phải viết Nguyễn Dữ, do sợ bị trừ điểm vì viết sai tên tác giả (!). Khoa học đòi hỏi một sự công bằng, dũng cảm. Do vậy, cần phải có những người có thẩm quyền để điều chỉnh lại cách gọi tên tác giả  một cách kịp thời trong những năm học tới.

Vấn đề thứ hai là trong quá trình giảng dạy về Nguyễn Tự ở trường phổ thông là cách hiểu yếu tố truyền kỳ của tác phẩm. Theo sách Ngữ văn 9, tập 1 và cả sách hướng dẫn giáo viên lớp 9, tên gọi của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục được dịch có nghĩa là “Ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ được lưu truyền”. Bằng những luận cứ khoa học xác đáng, PGS.TS Nguyễn Đăng Na cũng đã chỉ ra đặc điểm của thể loại văn xuôi tự sự là tên gọi của thể loại thường đặt cuối tên của tác phẩm. Bởi vậy, truyền kỳ trong trường hợp này không nên hiểu là thể loại như cách giải thích hiện hành, từ đó dẫn đến cách tiếp cận tác phẩm sẽ sai lệch theo hướng nhấn mạnh vào yếu tố lạ kì đặc biệt. Như tài liệu của tác giả Nguyễn Đăng Na đã chỉ rõ: “…đứng trong cụm từ “truyền kỳ mạn lục” thì, truyền kỳ làm định ngữ, chỉ tính chất của thể mạn lục – một thể tự sự viết tự do, tùy hứng theo ý đồ sáng tác của tác giả, không bị câu thúc bởi bất kỳ một lý do gì cả” (sđd, tr.212). Điều này có ý nghĩa đối với giáo viên phổ thông, những người chuyển tải thông điệp của Nguyễn Tự đến các thế hệ học sinh, tránh những ngộ nhận khi cho rằng Nguyễn Tự chịu ảnh hưởng của tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu ở Trung Hoa, vừa có ý nghĩa định hướng đúng đắn hơn cho việc tìm hiểu vào nội dung bức thông điệp của Nguyễn Tự, “lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh”, hướng về các giá trị nhân bản.

Đi cụ thể vào nội dung tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Tự, chúng tôi nhận thấy những nét thật thú vị khi các truyện của ông đã hết sức táo bạo khi đề cập đến những đề tài cấm kỵ của văn chương phong kiến. Trong một xu hướng văn chương hiện đại và hậu hiện đại hiện nay, người ta kêu gọi giải phóng cá nhân, tìm đến sex như là một sự giải toả những ẩn ức, dục tính được mổ xẻ một cách có phần thái quá thì chúng ta có thể tìm đến tác phẩm của Nguyễn Tự để thấy ông cha ta đề cập đến yếu tố này một cách độc đáo và nhân văn như thế nào. Nguyễn Tự đã không ngần ngại lý giải tình yêu muôn mặt đời thường gắn liền với yếu tố nhục cảm. Tất nhiên đây là một vấn đề tế nhị và dường như vẫn còn là đề tài “cấm kỵ” trong nhà trường chúng ta hiện nay, nhưng có nên chăng giáo viên cũng cần tự trang bị cho mình những kiến thức nền tảng này để có thể giải đáp những câu hỏi từ phía học sinh mà không cảm thấy lúng túng khi các em hỏi về những vấn đề “nhạy cảm” trong Truyền kỳ mạn lục. Hiện tại, ở chương trình lớp 9 chọn lọc đưa vào tác phẩm quen thuộc Chuyện người con gái Nam Xương, chương trình lớp 10 chuẩn và phân ban đều chọn tác phẩm Tản Viên phán sự lục (Chức phán sự đền Tản Viên). Đây là những tác phẩm hay trong Truyền kỳ mạn lục nhưng nhìn chung vẫn chưa thoả mãn những ai muốn hiểu một cách tương đối khái quát về tư tưởng của Nguyễn Tự trong tác phẩm. Đặt tác phẩm của Nguyễn Tự vào xu hướng thế tục hoá để nhận thấy vai trò của ông trong việc hoàn chỉnh thể loại truyện ngắn trung đại Việt Nam. Nguyễn Tự quan tâm đặc biệt đến số phận của người phụ nữ với những bất hạnh, bi kịch điển hình cho những đau khổ của con người thời trung đại.Những bất hạnh, bi kịch của con người được đề cập trong tác phẩm không chỉ gói gọn trong câu chuyện của Vũ Nương với Trương Sinh (Chuyện người con gái Nam Xương) mà còn là những bi kịch của tình yêu bị ngăn cấm, của duyên phận hẩm hiu, của thói đời đen bạc…Có đề cập một cách khái quát thì mới có thể phản ánh tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Tự một cách đúng đắn. Do vậy, nên chăng có một sự khái quát về xu hướng thế tục hoá trong văn xuôi tự sự trung đại và vai trò của Nguyễn Tự trong phạm vi số tiết cho phép của chương trình văn học phổ thông. Những điểm nổi bật nhất có thể tiếp thu để làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị của Truyền kỳ mạn lục có thể cô đúc từ những phân tích các truyện cụ thể của tác phẩm trong giáo trình cao đẳng, đại học, bảo đảm được sự liên thông giữa các cấp học. Đánh giá một cách khái quát về nội dung hiện thực được phản chiếu trong các tác phẩm, mối quan hệ giữa yếu tố hiện thực và yếu tố truyền kỳ trong tác phẩm, để tìm ra cốt lõi của những câu chuyện.

Ngoài những truyện đề cao phẩm hạnh của người phụ nữ trong tác phẩm như Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện nàng Thúy Tiêu, Chuyện nàng Lệ Nương cùng một cảm hứng như Chuyện người con gái Nam Xương,  người viết xin trình bày những cảm nhận xung quanh một số truyện đặc sắc của Truyền kỳ mạn lục xoay quanh số phận của người phụ nữ, trong đề tài tình yêu tự do, nhằm góp phần minh hoạ một phương diện tư tưởng của Nguyễn Tự trong Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Tự đã nhận ra ở những người phụ nữ sống đạo đức tử tế những nỗi bất hạnh tột cùng, khi phẩm giá của họ không được đền đáp mà lại bị vùi dập khinh khi, hầu như ai cũng phải tìm đến một cái chết oan uổng, một thực tế phũ phàng. Bởi vậy, ông đã có một góc nhìn khác vào những người phụ nữ vượt lên sự cương toả của lễ giáo, tìm đến tình yêu tự do. Ông đã không ngần ngại miêu tả tình yêu với tất cả sự mê đắm của những nho sinh với ma nữ, lật tung những giá trị đạo đức khi để cho các nhân vật sống với con người bản năng của mình. Tình yêu trong các câu chuyện được dựng nên với một ranh giới ảo và thật hết sức mong manh, mộng mà thực, thực mà mộng, tạo nên một sức hấp dẫn riêng. Cũng như bao mối tình nam nữ, các nhân vật cũng trải qua đầy đủ mọi cảm giác khi bước chân vào thế giới luyến ái. Truyện Cây gạo là một truyện hết sức táo bạo kể về mối tình của Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ, đắm chìm trong bể dục, đời sống hoan lạc ân ái. Một câu chuyện có thể nói đã đưa ra một triết lý hiện sinh như sự phản kháng lại mọi qui tắc lễ giáo đương thời: Nhị Khanh hiện ra là một trang “giai nhân tuyệt sắc”, mang một “mối tình u uất trong lòng”. Nàng nói với Trung Ngộ những lời hết sức táo bạo trong lần gặp gỡ đầu tiên: “Người ta sinh ở đời, cốt được thỏa chí, chứ văn chương thời có làm gì, chẳng qua rồi cũng nắm đất vàng là hết chuyện. Đời trước những người hay chữ như Ban Cơ, Sái Nữ (7) nay còn gì nữa đâu. Sao bằng ngay trước mắt, tìm thú vui say, để khỏi phụ mất một thời xuân tươi tốt. ”. Tất nhiên, mối tình Người – Ma mang màu sắc vô luân ngược đạo lý xã hội này phải bị ngăn cản quyết liệt. Thế nhưng khát vọng tự do yêu đương bị cấm cản đã tạo thành phản ứng quyết liệt của đôi tình nhân ma này. Mọi sự phản ứng ấy bắt đầu đến khi Trung Ngộ hoá thành ma, họ đã thành đôi yêu quái trong mắt mọi người, một đôi ma “dắt tay nhau đi đôi, khi khóc, khi hát”. Bi kịch trong thời đại ấy chính là ở chỗ không cho con người được tự do yêu đương, nên cả khi đôi tình nhân này đã hoá ma thì họ cũng bị truy cùng diệt tận, “đào mả phá quan tài”, nhập vào cây gạo thì bị đạo nhân tiêu diệt, huy động cả sáu bảy trăm đầu trâu áp giải đi. Tội lỗi của họ chỉ là yêu nhau, bất chấp mọi sự cấm cản. Có thể thấy trong lời bình, tác giả không một lời phê phán cá nhân Nhị Khanh, còn Trình Trung Ngộ chỉ có một lời bình là hạng “thất phu đa dục”,  “không đáng trách”.

Chuyện tình trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây còn táo bạo hơn khi đưa ra mối tình tay ba, miêu tả say sưa cảnh tự do luyến ái giữa Hà Nhân với Liễu Nhu, Đào Hồng. Tình cảm ấy không chỉ là sự say mê giữa giai nhân tài tử mà còn là một thách thức với xã hội khi tình dục được thăng hoa trong cảm xúc văn chương, thành những bài thơ miêu tả cảnh ân ái táo bạo. Phải chăng từ cảm hứng này mà sau này Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du mới có sự kế thừa. Chính Nguyễn Tự là “cha đẻ của dòng thơ sexy Việt Nam” (Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, t.2, NXBĐHSP, 2007, tr.51). Qua đó, cũng bày tỏ được khát vọng trần thế vượt ra những ngăn cấm khắc nghiệt của xã hội đương thời, dẫu cho những con đường tìm kiếm hạnh phúc mà Nguyễn Tự vạch ra cuối cùng đều bế tắc, thế nhưng cũng phần nào phản ánh tâm lý con người trong thời đại muốn phá tung những rào cản cấm đoán vô lý.

Không chỉ miêu tả những mối tình của người phàm, Nguyễn Tự còn chỉ ra cho chúng ta những tình duyên hết sức éo le. Một nhà sư hiệu Vô Kỷ mà cũng mắc lưới tình với nàng Hàn Than, vì “Cõi dục đã gần, máy thiền dễ chạm,(…). Hai người đã yêu nhau, mê đắm say sưa, chẳng khác nào con bướm gặp xuân, trận mưa cửu hạn, chẳng còn để ý gì đến kinh kệ nữa” (Nghiệp oan của Đào Thị), tiên nữ Giáng Hương cũng lụy tình với kẻ phàm trần Từ Thức, cũng vì “bảy tình chưa sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ở phủ tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân ở đền quỳnh mà lòng theo cõi dục” (Từ Thức lấy vợ tiên). Những câu chuyện tình thắm thiết ấy có khi phải trả giá như một nghiệp chướng khó thoát, bản thân Nguyễn Tự cũng phải đứng từ phía luân lý xã hội mà để nhân vật của mình phải gánh chịu hậu quả từ lòng dục vượt những giới hạn đạo lý: Hàn Than và Vô Kỷ không thể có niềm vui hạnh phúc vì đứa con chính là oan nghiệt, Giáng Hương và Từ Thức phải vĩnh biệt nhau vì sự khác biệt tiên phàm, cõi tiên không dung nạp tấm lòng trần thế.

Trong 11 truyện viết về những thân phận phụ nữ, tác giả cũng thể hiện khá rõ lập trường đạo đức Khổng Mạnh của mình. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng gửi vào trong từng câu chuyện tấm lòng thương cảm của con người với con người. Những chuyện phong tình bị lên án bởi những giáo điều, những quan niệm xã hội, bởi thế những oan khổ trong kiếp đàn bà vẫn không ngừng đeo đuổi họ cho đến chết. Mượn yếu tố truyền kỳ, nhà văn muốn an ủi cho những số phận bất hạnh. Nếu như hiện thực là ly biệt, là mất mát, đổ vỡ, là sự oan ức thiệt thòi, là sự ruồng rẫy rẻ khinh thì yếu tố truyền kỳ đem lại khoảnh khắc châu về Hợp Phố, sum họp đoàn viên, giải oan, bất tử hoá nhân vật… Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bản thân nhà văn cũng không thể tìm lời giải đáp cho nhân vật rằng đâu là hạnh phúc thật sự của con người. Những cảm nhận về một thời đại loạn ly hiện hình trong từng số phận phụ nữ, đàng sau bức màn huyền ảo là nỗi đau nhân sinh phản chiếu niềm thương cảm của nhà văn.

Hiểu Nguyễn Tự và tinh thần cơ bản của Truyền kỳ mạn lục, chúng ta có thể tìm thấy một hướng khai thác vào vẻ đẹp của tinh thần nhân bản thế kỷ XVI, một tiền đề cho sự nở rộ của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong sáng tác ở các giai đoạn sau. Sự tổng hoà các xu hướng dân gian, xu hướng lịch sử và xu hướng thế tục đã khiến cho những câu chuyện của Nguyễn Tự thật sự có một diện mạo riêng, đạt đến chuẩn mực của truyện ngắn trung đại Việt Nam. Những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo ẩn sau lớp vỏ truyền kỳ cần được tiếp nhận một cách đúng đắn để hiểu rõ thời đại của Nguyễn Tự, khám phá những uẩn khúc những chiều sâu tâm hồn con người thời trung đại. Ngoài ra, cũng từ cái mốc Truyền kỳ mạn lục, chúng ta cũng có thể thấy được những sáng tạo mang đậm dấu ấn tác giả, sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần văn chương thời đại trước, mối quan hệ với văn chương khu vực và ảnh hưởng của Nguyễn Tự đối với văn học giai đoạn sau này. Từ đó, trong việc giảng dạy, hướng dẫn đọc thêm cho học sinh, chúng ta sẽ chọn lọc được những truyện có tính giáo dục cao, có giá trị thẩm mỹ, giúp các em hiểu sâu hơn vẻ đẹp của tác phẩm nói riêng và của văn xuôi trung đại nói chung./.

Hà Nội, tháng 1 năm 2008

TRẦN HÀ NAM

Vẻ đẹp Đàn ghi ta của Lorca – Thanh Thảo


Thanh Thảo

ĐÀN GHI TA CỦA LORCA

Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghita

* F.G. Lorca

những tiếng đàn bọt nước

Tây-Ban-Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Tây-Ban-Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lorca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du

tiếng ghi-ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi-ta ròng ròng

máu chảy

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt

dòng sông rộng vô cùng

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghi-ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…

(Khối vuông Rubic – NXB TPM – 1985)

Đất nước Tây Ban Nha xinh đẹp với những trận đấu bò rực lửa, với tiếng ghi ta say lòng đã đi vào trong thơ của Garcia Lorca, nhà thơ nhân dân, người chiến sĩ chống phát xít. Sự hy sinh anh dũng của ông trước họng súng của bọn phát xít Franco đã để lại nhiều tiếc thương cho nhân dân Tây Ban Nha. Sức ám ảnh của những bài thơ đầy chất lãng tử của người nghệ sĩ Tây Ban Nha ấy đã gặp gỡ với hồn thơ Thanh Thảo làm nên bài thơ độc đáo Đàn ghi ta của Lorca trong tập thơ Khối vuông rubic.

Trước hết cần phải thấy không phải ngẫu nhiên mà Thanh Thảo lại chọn hình tượng đàn ghi ta gắn với giây phút cuối cùng của F.G.Lorca. Bởi lẽ người chiến sĩ này đã dùng tiếng ghi ta cất lên lời ca tranh đấu chống lại chủ nghĩa phát xít. Đàn ghi ta là tâm hồn Lorca, là khí phách kiên cường của những người chiến sĩ yêu tự do hòa nhịp trái tim mình với quần chúng nhân dân. Bởi vậy, nỗi xúc động của Thanh Thảo làm nên cảm hứng của bài thơ cũng bắt đầu từ câu thơ của Lorca: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta”.

Viết về một nhà thơ hiện đại, một người con của đất nước Tây Ban Nha, Thanh Thảo đã dựng nên một chân dung bằng thơ sống động. Không gian mở đầu bài thơ là những biểu tượng đặc trưng của văn hóa xứ sở những trận đấu bò, hiện hữu tất cả chất say phóng cuồng nghệ sĩ:

những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn…

Cái độc đáo của bài thơ này chính là ở những thủ pháp hiện đại mà hình ảnh không hề cầu kỳ xa lạ vẫn giúp người đọc hình dung chất Tây Ban Nha không trộn lẫn. Thanh Thảo có lối diễn đạt câu thơ không viết hoa đầu dòng, tạo mạch thơ liên tục, xâu chuỗi với nhau để nối kết các biểu tượng đầy sức ám ảnh : đất nước của những làn điệu ghi ta – Tây Ban cầm, của áo choàng matador – đấu sĩ, của những giấc mơ hiệp sĩ của chàng Đôn Kihôtê đã cuốn hút người đọc bằng chất men say chếnh choáng cả vầng trăng. Không chỉ có thế, ghi ta của chàng nghệ sĩ còn vang những âm điệu rất lạ « li-la li-la li-la » gọi về sắc tím của hoa tử đinh hương, âm thanh và màu sắc hoà quyện, dìu dịu vẻ đẹp của một nỗi buồn trữ tình. Bài thơ cuốn người đọc vào cái âm hưởng li-la ngân mãi không dứt ấy. Đó cũng là những gì đã xuất hiện trong thơ Lorca, ca ngợi một đất nước Tây Ban Nha tươi đẹp và hào hiệp với khát vọng công lý, tự do.

Tây Ban Nha của thời Lorca còn là đất nước sôi sục những cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít , ghi ta của Lorca cất lên lời ca tranh đấu :  «Ghi ta bần bật khóc – Không thể nào – dập tắt » (thơ Lorca). Bởi vậy diễn tả khoảnh khắc người chiến sĩ ấy bị bọn phát xít sát hại,  Thanh Thảo cũng đã dựng nên bầu không gian kinh hoàng những ấn tượng chết chóc : Tây Ban Nha hát nghêu ngao – bỗng kinh hoàng –áo choàng bê bết đỏ-Lorca bị điệu về bãi bắn – chàng đi như người mộng du…Những câu thơ tiếp nối diễn tả tột cùng cho cảm giác đau đớn uất nghẹn trước sự tàn bạo của bọn độc tài phát xít :

tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta

ròng ròng máu chảy…

Điệp khúc dồn dập qua nhịp thơ Thanh Thảo như đã lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghi ta bi tráng! Màu nâu của đất, của làn da rám nắng, màu xanh của lá của bầu trời như tương phản gay gắt và dữ dội với màu đỏ ròng ròng máu chảy. Cảm giác vỡ oà đau đớn uất nghẹn trong tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Nỗi kinh hoàng trong cảm giác mất mát cũng nhân lên gấp bội, nỗi đau như xé lòng khi hình dung ra cảnh kẻ thù sát hại người nghệ sĩ tranh đấu cho tự do.

Những câu thơ tiếp theo như đặc tả cho một sự sống khác, mãnh liệt, âm thầm mà bất tử :

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Đoạn thơ tái hiện khoảnh khắc kẻ thù của Lorca hèn hạ thủ tiêu chàng, ném xác xuống giếng, nhưng qua hình tượng âm thanh tiếng đàn ta nhận ra một sức sống mãnh liệt vẫn tiếp tục. Cảm giác bi tráng hiện hữu qua những liên tưởng về cỏ mọc hoang, giọt nước mắt vầng trăng, đáy giếng tạo cảm giác trống vắng sau sự hy sinh anh dũng của Lorca. Thanh Thảo rất có ý thức khi so sánh tiếng đàn với cỏ mọc hoang để cảm nhận về sức lan toả của sự sống mãnh liệt không gì có thể hủy hoại được. Có khoảng lặng sau ánh sáng vầng trăng nhưng đủ diễn tả nỗi tiếc thương long lanh trong đáy giếng, nơi kẻ thù tưởng có thể vùi chôn tinh thần tự do bất tử của Lorca.

Vì lẽ đó, những câu thơ Thanh Thảo đã tái hiện sự sống của Lorca thật kỳ diệu và xúc động, con người đã hoá thân vào âm thanh của đàn ghi ta, tan chảy hoà cùng dòng sông bất tận:

Lorca bơi sang ngang

Trên chiếc ghi ta màu bạc

Chàng ném lá bùa cô gái di gan

Vào xoáy nước

Chàng ném trái tim mình

Vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…

Những câu thơ diễn tả một hành trình đối mặt với định mệnh của người nghệ sĩ tài hoa người Tây Ban Nha, như một thái độ bình thản trước số phận. Lá bùa – định mệnh, trái tim lặng yên để làm nên một sự sống trường tồn vượt qua và vút lên vang động khắp không gian. Khúc đàn tự do ấy lại vang lên : li-la li-la li-la… Tiếng đàn mang tên loài hoa theo tiếng Tây Ban Nha như một sự sống lặng lẽ toả hương, hiện hữu giữa cuộc đời. Hai lần Thanh Thảo dùng động từ ném để diễn tả nhằm làm nổi bật lên vẻ đẹp của con người từ lâu dám coi khinh cái chết, bởi cái chết do kẻ thù gây ra cũng không thể ngăn cản tư tưởng, tâm hồn Lorca hoà vào với sự sống bất tử của nhân dân.

Đàn ghi ta của Lorca là một bài thơ hay của Thanh Thảo, không chỉ đã tạo dựng chân dung người nghệ sĩ – chiến sĩ Garcia Lorca một cách trung thực, mà còn khiến người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp tâm hồn, tính cách đậm chất Tây Ban Nha của Lorca. Bài thơ giàu nhạc điệu, ngỡ như chính tác giả đã để lòng mình đồng điệu với sự sống Lorca trong giờ phút đối mặt với họng súng quân thù.

Tiếng đàn ấy, sức sống ấy vẫn ngân vang những tiếng li-la li-la li-la để hiện hữu sống động hình ảnh một Lorca với chiếc ghi ta màu bạc, vẫn rong ruổi trên hành trình dân tộc Tây Ban Nha, hát lên bài ca tranh đấu, bài ca tình yêu sự sống. Phút gặp gỡ của nhà thơ Việt Nam Thanh Thảo với Lorca đã làm nên một bài thơ còn nóng hổi hơi thở cuộc sống hiện đại, ca ngợi người chiến sĩ trong đội ngũ đấu tranh vì tự do công lý, quyết không cúi đầu trước các thế lực bạo tàn./.

Trần Hà Nam

Đất Quy Nhơn gầy đón chân chàng đến


Đầu năm con Trâu này, mình đã hai lần lên thăm Hàn Mặc Tử…Cũng lạ, năm nào cũng lên thăm Hàn, vậy mà năm nay có nhiều điều suy tư hơn…
I.
Lần thăm Hàn với học sinh nhằm tổ chức một Ngày Thơ theo cách riêng của học sinh Lê Quý Đôn vào chiều Chủ nhật, trước Nguyên Tiêu một ngày. Không khỏi ngỡ ngàng về cảnh quan được sửa sang của mộ Hàn. Phía trên của Đồi Thi nhân không còn dấu tích bút lửa Dzũ Kha cùng nhà lưu niệm Hàn Mặc Tử. Thay vào đó là một mỏm đồi được trồng cỏ Mỹ, cỏ Nhật gì không rõ. Khuôn viên quanh mộ Hàn thì được chỉnh trang lại, có vẻ đẹp đẽ thông thoáng hơn. Con mắt của nhà kinh doanh dịch vụ du lịch khách sạn Sài Gòn, đơn vị chủ thầu tỏ ra khá tinh đời khi chọn Hàn làm trung tâm điểm của khu kinh doanh du lịch Gành Ráng – bãi tắm Hoàng Hậu.
hmt1
Buổi chiều đó, học sinh cũng tìm thấy Dzũ Kha ở khu “làng nghề” trên đường rẽ vào khu nhà hàng Hoàng Hậu. “Người giữ lửa thơ Hàn” nghe nói có các em học sinh lên tìm hiểu về thân thế Hàn Mặc Tử, tỏ ra vui lắm, lễ mễ lôi kho tư liệu của riêng anh ra để làm thuyết minh cho các em. Cũng lạ, sau bao thăng trầm trong cuộc đời, bị trắng tay, nhưng Dzũ Kha nói về Hàn vẫn còn đầy lửa lắm! Học sinh chuyên Văn cứ ồ lên từng chặp, thích thú dõi theo chàng lãng tử phong trần mê Hàn này! Chỉ tiếc cho nhà lưu niệm Hàn Mặc Tử, cũng như công trình bánh sinh nhật Hàn của Dzũ Kha, những di tích cua Hàn tại đồi Thi Nhân đã bị dẹp vào kho, không biết khi nào mới có một chốn tưởng niệm Hàn thật long trọng nơi Hàn yên nghỉ?
dzukha
Lên thăm Hàn trước Ngày Thơ Việt Nam mà lòng cứ se buồn vì nhớ những Nguyên Tiêu các năm trước! Ngày Thơ Việt Nam khi được tổ chức ở đồi Thi Nhân đã có bao nhiêu người từ nước ngoài về, từ thành phố Hồ Chí Minh ra và từ nhiều địa phương khác đến. Những buổi chiều đọc thơ của học trò, những bài thơ dự thi Nguyên Tiêu thật sôi nổi và ấm áp! Cũng ở đồi Thi Nhân này, đêm Nguyên Tiêu nào mình từng đọc bài bình Mùa Xuân chín của Hàn với biết bao xúc động! Dzũ Kha thì như người chủ nhà tíu tít chuẩn bị rượu Bàu Đá đón bạn thơ phương xa! Học trò chuyên Văn các khoá đi xa về, vẫn nhắc mãi không khí tuyệt vời của những Nguyên Tiêu bên Hàn. Nơi đây, những gương mặt thơ trẻ của Bình Định đã say sưa nghe thơ, đọc thơ, có những em đã đoạt giải Nhất, giải Ba cuộc thi thơ, giữ mãi kỷ niệm đẹp thời học sinh.Thế hệ chuyên Văn năm nay thiệt thòi, khi háo hức chuẩn bị được sống cùng không khí thơ như anh chị thì lại đón nhận thông báo không tổ chức Ngày Thơ tại đồi Thi Nhân. Bao công sức chuẩn bị, thôi thì thầy trò mình với nhau vậy! Lên thắp nhang cho Hàn ấm lòng! Mà các trò thấy không, có biết bao người vẫn nhớ Hàn, đến với Hàn, dù cho Ban Tổ chức Ngày Thơ muốn đưa thơ ra quảng trường. Đêm Nguyên Tiêu năm nay, cũng có bao bạn thơ lặng lẽ rời khuôn viên Nhà Văn hoá Lao động, lặng lẽ lên với Hàn, đọc thơ, rót rượu lên mộ Hàn. Người Thơ vẫn không đơn độc.
bdv
II. Chuyến hành hương thứ hai lên thăm Hàn là chuyến đi nội bộ gia đình. Vợ chồng anh chị, vợ chồng em út phía vợ rủ thêm vợ chồng người bạn từ Ninh Hoà ra Qui Nhơn lần đầu tiên. Nghe nói có Hàn Mặc Tử, đề nghị lên thăm cho đúng nghĩa là ra với Qui Nhơn. Vậy là cả mấy gia đình cùng lên thăm mộ Hàn, gọi là kết hợp tham quan và đi chơi Lễ Tình nhân. Anh bạn người Ninh Hoà nghe nói nhà lưu niệm Hàn Mặc Tử đã bị dỡ đi, tiếc ngẩn ngơ vì không có dịp tìm hiểu kỹ hơn về Hàn! Thì đi! Tôi sẽ đưaông cùng mọi người vào thăm Qui Hoà, nơi Hàn từng chữa bệnh và ra đi. Ngày Tình nhân, hoá ra cũng nhiều người hành hương về với Hàn, thi sĩ của những bài thơ thắm thiết tình đời, tình người!Đứng trước tượng Hàn trong nhà lưu niệm, ai cũng muốn chụp hình lưu niệm ghi lại khoảnh khắc đến bên Hàn. Tôi làm hướng đạo cho nhé!Đây là bãi biển Qui Hoà – nơi Hàn có những vần thơ “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!” từ điệu nhạc mồm của anh bạn đồng bệnh đi trên bờ cát, luôn miệng “tăng,tăng,tăng, tờ răng tăng tăng”, đây là tượng Maria, nguồn cảm hứng vô biên cho nguồn thơ Đạo nhưng rất Đời của Hàn! Tạm biệt Hàn, ừ, mình cùng ghé qua nơi an nghỉ đầu tiên của thi sĩ nhé! Đất Qui Nhơn gầy đón chân chàng đến – câu hát của Trần Thiện Thanh ai mà không nhớ! Đài tưởng niệm này cũng do vợ chồng nhạc sĩ góp phần để ai đến Qui Nhơn còn nhớ nơi Hàn đã hoá thân:
Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như Trăng
Không có một nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm…
Trong lòng những người yêu thơ, yêu Qui Nhơn, dường như chưa bao giờ ai lãng quên Hàn Mặc Tử. Nhưng vẫn buồn, khi có những người lãng quên Hàn trong Ngày Thơ, vẫn buồn khi có người định kinh doanh Hàn, mà lại quên thắp nhang trước mộ Hàn! Dẫu Hàn là con chiên của Chúa, không cần hương hoa khấn khứa, nhưng Hàn còn là thi nhân. Gọi anh linh Hàn về, theo cách của người Việt ta, có chi bằng: “Đốt lò hương ấy, so tơ phím này…”, cũng là một nét văn hoá chứ sao? Hàn sẽ ấm lòng vì những nén tâm hương ấy mà về với chúng ta…

Trần Huiền Ân


Tôi đọc những bài thơ của Trần Huiền Ân trong tập “Thi ca miền Trung Việt Nam” do tác giả Lương Trọng Minh biên soạn. Ấn tượng về một giọng thơ đằm thắm, có chút gì nhoi nhói khi giữa lòng miền Nam “thời Mỹ ngụy” như chúng ta thường gọi, lại có những vần thơ nói về kỷ niệm kháng Pháp đậm đà đến thế. Thú thật, tôi hiểu về giai đoạn kháng Pháp, mảnh đất xứ Nẫu khổ mà vui như thế nào cũng từ bài thơ này, để rồi hỏi cha tôi, người gắn bó với khu V thời ấy, mới rõ thêm sinh hoạt thời kháng chiến.
Nhưng, bài thơ khiến tôi cảm động hơn cả lại là những câu thơ trong bài Hoa vòi voi – nó nhân văn, nó thật như là cảnh tôi đã từng đọc ở một nhà thơ đồng hương khác là Phạm Hổ, khi đi tập kết ra Bắc, viết trong bài Những ngày xưa thân ái:
Tôi bắn hắn rồi
Những ngày xưa thân ái
Không ngăn nổi tay tôi…

Tôi biết những câu thơ ấy thể hiện tinh thần tiến công cách mạng, không khoan nhượng trước kẻ thù, nhưng vẫn rùng mình vì nghĩ đến cảnh tao ngộ nơi chiến trường thật sự giữa hai người bạn đã có thời ấu thơ bên nhau. Bài thơ của Trần Huiền Ân không diễn tả cảnh “xáp lá cà” sẵn sàng xả súng vào bạn mà chỉ là trong cuộc giao tranh súng đạn vô tình. Biết là thế, biết là không thể đặng đừng mà vẫn xót xa. Bài thơ này viết trong những năm cuộc chiến diễn ra ác liệt, không đọc bài thơ này bằng tình cảm thiên tả thiên hữu, ta thấy Trần Huiền Ân đã nói những điều đắng đót của cuộc chiến trên đất nước – cuộc chiến ý thức hệ đẩy những người anh em, bạn bè vào hai chiến tuyến. Nói trong lòng xã hội miền Nam, trong tâm trạng: “Con buông trôi cuộc đời không lý tưởng Chưa một lần toan ao ước say mê…”(Trời quê mộ Mẹ). Trong khi đó, những nội dung tương tự như vậy phải đến 30 năm sau phía văn học của chúng ta mới nói đến (tôi nhớ có đọc được của nhà thơ Hương Đình bài thơ viết về người mẹ của hai đứa con ở hai chiến tuyến rất xúc động và được nhiều bạn văn chương tán thưởng).
Tôi chưa gặp Trần Huiền Ân, nghe nói hiện nay ông đang sinh hoạt tại Hội Văn học Nghệ thuật Phú Yên. Nhưng tôi đã được gặp ông từ trong thơ lâu lắm rồi! Xin chia sẻ cùng mọi người hai bài thơ nhỏ của Trần Huiền Ân.

Trần Hà Nam

THƠ TRẦN HUIỀN ÂN

HẸN XƯA

Tôi đi học giữa những ngày kháng Pháp
Áo quần thô xám nếp vải xi ta
Đêm đến lớp ngọn đèn chai gió táp
Tắt vội vàng khi tiếng máy bay qua
Chúng tôi ngồi quanh hiên đình chật hẹp
Bóng thầy chao trên vách chắn phên thưa
Chòm tóc ngắn bên những vồng tóc kẹp
Ngước uống từng lời mắt sáng đong đưa
Ngòi bút dùng gốc tre già vót nhỏ
Giấy nam trung còn dấu sợi rơm hiền
Son thầy phê vàng hoe màu thuốc đỏ
Tôi nâng niu từng nét chữ nghiêng nghiêng
Tan buổi về lo chăn bò, cắt cỏ
Đắp lúa, thăm đồng, mót lúa, đuổi chim
Thương cha mẹ già nua, còn khốn khó
Nước mắt xuôi hàng – Máu ngược về tim
Tuổi học trò của tôi là thế đấy
Trên đất khô cằn vượt nở hoa tươi
Quen thuộc quá nên nhọc nhằn chẳng thấy
Vòng tay ôm hoài bão ấm môi cười.
Chúng tôi căm hờn quân thù tàn ác
Đốt sách, giết thầy, phá sập trường quê
Lưỡi lê nồng tanh máu ngừơi bạo sát
Đã không chừa em nhỏ mới a, b
Chúng tôi nguyền lớn khôn cùng xây dựng
Đất nước Việt-Nam độc lập hoà bình
Cho những ngôi trường oai nghiêm sừng sững
Tiếng hát học trò thêm sáng bình minh
Và bây giờ theo tháng ngày xưa tính
Bạn bè trôi lưu lạc mất trong hồn
Tôi ngỡ ngàng tra thân vào nghiệp lính
Chợt giật mình nhìn lại hẹn lớn khôn
Buổi hằng buổi theo đoàn quân tiến bước
Ra thao trường tắm nắng gội mồ hôi
Tôi nhìn các em – nhìn tôi thuở trước

Chạy dọc đường bưng rổ bánh, mâm xôi
Lời em rao lên cao rồi tắt nghẽn
Tầng dư ba không lả lướt chào mời
Đôi tay gầy cặm xương vào xác én
Khấp khểnh chân trần nhịp thở chùng hơi
Bán đi em nhanh nhanh về đi học
Rồi thả trâu, rồi bế bé, trông nhà
Tôi xét mình xin cúi đầu trách móc
Bao lỡ lầm thiếu sót phận anh cha
Nên các em còn bơ vơ đói rách
Sớm tảo tần mong kiếm bát cơm vơi
Bốn năm tuổi mũi thần lau chưa sạch
Đã tranh đua chen chúc với dòng đời
Tôi không biết mình xưng tên chiến đấu

Cho các em cùng nối mộng cao xa
Hay cho những người cười trên lửa máu
Thêm sang giàu nhờ xáo thịt nồi da?
1966
T.H.Â

HOA VÒI VOI
Hai xóm cách nhau nhánh sông nho nhỏ
Một bến đò ngang chắp mút nẻo đường
Hai đứa quen nhau lúc nào chẳng rõ
Hăm mấy năm trường chẳng mến cùng thương

Thuở nào xa xưa chung thầy chung bạn
Bữa cơm mo trưa chung đội bóng xoài
Mùa trăng hạ tắm chung dòng nước cạn
Con sông hiền âu yếm vỗ tầm vai

Đêm tháng chạp rủ chơi trò giặc giả
Hai xóm hai miền hai đứa hai phe
Đứa do thám địch tình trên đất lạ
Đứa tuần hành tai mắt cố tìm nghe

Thằng tuần tiễu bắt được thằng do thám
Giữa đám vòi voi hoa trắng ven sông
Nó lưỡng lự nhìn mây trời tự xám
Khẽ mỉm cười…Tha đó…chạy đi ông

Nhưng thuở nào xa xưa giờ đã hết
Cuộc tương tàn hai đứa lại hai phe
Im lặng chia tay một chiều vãn tết
Muốn hé nên lời sợ chính mình nghe

Rồi sau đêm bờ sông bom đạn rú
Một thằng đi dọn máu xương tàn
Lật xác quân thù…Ôi…người bạn cũ
Giữa đám vòi voi hoa cuộn băng tang
1965