>HẠT BỤI NÀO…


>

            Không hiểu sao khi đọc xong tập thơ thứ ba của Võ Ngọc Thọ – Hạt Bụi và Hoa Quỳnh – tôi lại chợt nhớ lời hát của Trịnh Công Sơn: hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…, phải chăng vì cả hai hình tượng anh dùng đặt tên cho tập thơ này đều gợi về một cái gì rất nhỏ bé,mong manh, ngắn ngủi trong cảm nhận về sự sống, đời người?
            Từ bài thơ mở đầu đã mang theo ám ảnh về một đường tàu – định mệnh, dù rằng anh nói về một vấn đề lớn lao:
            Có vẻ như con tàu đã vào đúng đường ray độc nhất
            người lái tàu quá thuộc những lời răn
            Có vẻ như ga vắng khách
            mà người tiễn, nhân viên đường sắt thì đông
            Có vẻ như đoàn tàu đang bị lỗ
            nhưng những người ăn theo thì giàu sụ…
                                                (Có vẻ như…)
            Tôi nhận ra những bài thơ gần đây của Võ Ngọc Thọ thường bắt nguồn từ những quan sát cảm nhận hiện thực có phần gai góc và sù sì của đời sống, những suy ngẫm thơ cứ thế bật ra theo lối tự sự để chuyển tải những trăn trở hướng về đất nước, nhân dân. Những bài thơ làm với cảm hứng công dân thường không mấy khi dễ chịu và dễ dãi, vì còn quá nhiều những ưu tư cuộc sống đọng lại. Cũng là những hình tượng thơ trở thành  đối tượng chiêm ngưỡng, ca ngợi của thi ca nhưng Võ Ngọc Thọ lại ngẫm nhiều hơn đến nỗi đau, đến sự hy sinh lặng thầm, những mất mát trong phận người. Chẳng hạn một bài thơ ngắn viết về Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, anh kết bằng hai câu ray rứt:
            Đèn khuya  tuổi mẹ mỏi mòn
            Nén hương khói tạt khóc con đêm dài…
            Có một nhà thơ đã từng tuyên ngôn: “Tôi đứng về phe nước mắt!” giữa không khí thời đại hừng hực những khúc tráng ca. Bây giờ khi thơ đã thấm đẫm cảm hứng nhân văn, quan tâm hơn những vấn đề nhân sinh, ta lại gặp quá nhiều nước mắt! Võ Ngọc Thọ có độ tiết chế hơn trong tình cảm, trừ khi đó là nỗi đau của riêng anh, còn thơ anh đủ độ tỉnh táo để không có những giọt nước mắt cá sấu giả vờ yêu nước thương dân, ăn năn sám hối như một mốt thời thượng của những loại ngụy-thi-sĩ! Có thể đó là những giọt thơ rơi trong chiều mưa hay cảm hứng vào một ngày xuân cờ đỏ mai vàng, một suy ngẫm về lòng yêu nước không là đặc quyền của một tầng lớp, giai cấp phe phái nào cho đến trăn trở về thời gian có ich và mặc cảm vô tích sự, Võ Ngọc Thọ đã có thừa độ tỉnh để rạch ròi trong thái độ:
            Người hiền tài chơi gốc
            Có sẵn một kế sách an dân
            Kẻ gian nịnh chơi gốc
            Nuôi sẵn dã tâm hại dân bán nước…
                                    (Chơi gốc)
            Trong cảm hứng thơ kết hợp suy tư phận người và đất nước, Võ Ngọc Thọ đã có một bài thơ thật đời mà cũng rất giàu triết lý, những triết lý chắt lọc từ trải nghiệm nhân tình thế thái : Người đàn ông mài dao dạo. Tôi nghĩ đó cũng là cách anh hình dung về chính mình, về cái tạng thơ của mình:
            Không mài dũa
            đá vẫn cứ là đá
            dao cũ mòn bỏ đi
            Người đàn ông cắm cúi mài dao
như mài trên chính thân phận mình…
Trong Hạt Bụi và Hoa Quỳnh, Võ Ngọc Thọ dành nhiều đất cho tình yêu, đề tài muôn thuở! Tuy nhiên đó không phải là thứ tình yêu nồng nàn đắm đuối của tuổi hai mươi mà là tình yêu muộn mằn của một người nhiều trải nghiệm. Đó là tình yêu rất nồng nàn bền bỉ thách thức với thời gian, ấp ủ tự trong lòng, chạy đua với tuổi tác. Lớn hơn tình cảm nam nữ thông thường, đó là thái độ tôn vinh cái đẹp, trân trọng chút hương thầm đọng lại với đời:
Hoa rồi cũng úa tàn
sẽ thay bằng những bông hoa khác
Xuân về
tôi lại đem chiếc bình cũ ra dùng
nhớ những người đi qua…
còn gửi lại chút hương
                        (Chiếc bình hoa)
Có thể dễ dàng nhận ra sự trở lại của hình tượng hoa, một ám ảnh thường trực trong thơ Võ Ngọc Thọ từ những tập thơ trước: hoa mai vàng, hoa bằng lăng, hoa hồng, hoa hướng dương,những làn hương hoa, những dáng hoa … và anh làm người tỉ mẩn nhặt hoa và trò chuyện cùng hoa. Nên cái say trong tình yêu của Võ Ngọc Thọ là cái say của một người tình thầm lặng, chiêm ngưỡng mà không muốn chiếm đoạt sở hữu, nhiều hoài niệm nhiều bâng khuâng:
Tôi ngồi trong lặng lẽ
Bên bóng hoa mơ màng
Hương tình em sâu lắng
Chiều chợt buồn mênh mang…
                        (Hương…)
Anh gửi vào trong hoa một triết lý của người đã chạm vào ngưỡng lục thập hoa giáp của một đời . Thời gian càng hối hả, con người càng cần sống chậm để chiêm nghiệm giá trị đời người, như một tâm sự anh gửi gắm trong Thơ viết một ngày không vội vã:
Ngày không vội vã
ấy là ngày ngồi nghe biển tâm tình
nhìn sóng dào dạt vỗ bờ
rồi tan mau trong ly cà phê giọt chậm…
Trong nhịp thời gian chậm rãi ấy, anh đã chiêm nghiệm được rất nhiều vẻ đẹp và cả những mặt gai góc của đời, đã sống rất nhiều vai khác nhau: người công dân, người tình, người cha, người ông… Tôi không muốn nói nhiều thêm những bài thơ anh viết cho gia đình, cho Mẹ, cho Cha, cho con gái, cho cháu ngoại, vì đó là khi anh viết cho riêng mình bằng tất cả máu thịt và niềm kính ngưỡng, nỗi đau mất mát. Không cần bình và không thể bình những bài thơ ấy mà chỉ biết lặng lẽ cảm cùng anh.
Khép lại những cảm nhận vội vàng này, tôi xin được cùng anh đọc bài thơ, như một phản biện cho cảm nhận ban đầu của tôi:
Chẳng có hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
chỉ có thơ
và tình em
giúp tôi đứng dậy
Những đêm buồn
bạn cùng vầng trăng và hạt bụi
ơi, vô thường
nở đóa quỳnh thơm!
                        (Hạt Bụi và Hoa Quỳnh)
Vâng, đó là bức thông điệp nhẹ nhàng lắng đọng mà Võ Ngọc Thọ muốn gửi gắm cho chúng ta trong tập thơ này.
                                                                                    TRẦN HÀ NAM

Trịnh Hoài Linh – Ruộng và Làng


(Đọc Hương của Đất – tập thơ của Trịnh Hoài Linh, NXB Thời Đại, 2010)
Mẹ…
Ruộng…
Làng…
Trịnh Hoài Linh đã đem vào trong thơ tất cả cái chân chất của một nông dân thứ thiệt. Khi tập thơ của anh thấm đẫm một niềm thơm thảo chất bùn đất quê làng! Thú thật, dạo này tôi dị ứng khi nghe những danh xưng những mĩ từ mượn màu quê kiểng nhưng thực ra đó chỉ là thứ trang sức lòe người đánh bóng tên tuổi để tiện bề loi ngoi trong bả phù hoa danh lợi. Nên đọc thơ Trịnh Hoài Linh ít nhiều cũng có chút cảm giác e dè ấy. Mà cũng lạ, khi người ta nếm đủ mùi vinh hoa thì lại cứ thích về nép trong bóng quê làm dáng, như cái kiểu các ông vào hàng đặc sản gọi món rau muống xào tỏi để tỏ ra mình chưa quên gốc quê mùa. Thật may, thơ của Trịnh Hoài Linh là của một dân làm ruộng thứ thiệt, tay chân chai sần, nứt nẻ vì cắt lúa lội ruộng. Nên trước hết tôi tin anh nói thật, cái khó tìm ra trong thời buổi thiên hạ thích nói láo thích lòe đời. Mà cũng thật may khi lại không phải là cái thật thà như đếm có sao nói vậy để làm cho thơ trở thành dung tục sống sượng – cũng là một cách mà một số người ngộ nhận đó là dòng thơ dân gian, thực chất là tục tĩu hóa thơ.
Thơ Trịnh Hoài Linh có mỹ cảm, có thi pháp hẳn hoi. Thậm chí nếu như đưa vào một công trình luận văn kiểu tìm tính dân tộc trong thi pháp thơ đồng quê, e có khi liệt kê ra hàng đống không gian nghệ thuật làng quê, thời gian nghệ thuật hồi tưởng, tâm thức nông dân… trong gần 40 bài thơ của anh. Và nếu tán giỏi thì Trịnh Hoài Linh khéo trở thành một hiện tượng, một phát hiện của nền thơ trên đường về nguồn quê hương! Xin anh lượng thứ cho những lời của một kẻ cày-đường vốn không rành lắm về nông dân, nông thôn vì đã không hít thở hương đồng có dễ hơn ba chục năm như tôi. Nếu anh là kẻ háo danh thèm tiếng thì cứ coi như đây là sự giễu cợt ba trợn của một kẻ chẳng hiểu gì mà múa ba tấc lưỡi. Nhưng tôi nghĩ mình dám bạo miệng mà nói những điều ấy, bởi Trịnh Hoài Linh là người làm thơ có chất ở đất Bình Định này, và nếu anh có chút ngông, chút dấn thân thì biết đâu sau cái Đại hội nhà văn trẻ năm nào lâu lắc, giờ đây anh đã có hàng chục tập thơ và tiếng tăm như cồn trên văn đàn, nếu sang trọng nữa thì kiếm chút quan chức văn nghệ tỉnh nhà! Chứ có đâu về lại với luống cày, với đồng quê – với Làng, Ruộng và Mẹ – tảo tần hôm sớm cuộc đời để nguyện làm một “lão nông tri điền” thứ thiệt. Anh dại chăng? Hay anh “khôn nẻ vỏ”? Dại – khôn cũng nằm ở miệng người đời thôi. Còn tôi tin Trịnh Hoài Linh chưa hề toan tính điều này, cứ hồn nhiên làm thơ, hồn nhiên chơi với bạn bè văn nghệ đến mức bị lợi dụng thì cũng chỉ lắp bắp không tin nổi sao mình là thằng cày ruộng mà nỡ lòng cũng bị lôi vào cuộc thị phi! Có hề chi, anh vẫn cứ “dzìa dzí Hậu” theo cách nói đặc sệt chất An Nhơn của mình.
Không tin sao được, khi gặp những vần thơ hồn hậu về cánh chim, như thấp thoáng chất đồng dao – nhưng không phải đuổi chim mà lại là gọi chim về:
Đậu xuống sân nhà ta
Hỡi cánh chim tha hương
Lúa của ta đã vàng
Sông ta đầy nước ngọt
Chim tha hồ mà ăn
Chim thỏa thuê mà tắm…
(Cánh Chim)
“Đất lành chim đậu!”, Trịnh Hoài Linh đã mở đầu cho tập thơ của mình bằng những lời gọi chim, gọi thơ tung cánh trên cánh đồng làng hào phóng, trên mảnh đất mà anh dày công chăm xới, để thả sức thăng hoa hồn thơ khi mùa vàng đã tới. Ý tưởng thật ngộ nghĩnh nhưng cũng thật giản dị mộc mạc. Còn gì tha thiết và đáng quý bằng chính người nông dân nói về công việc của mình bằng thơ, để có cảm giác thư thái sau giờ phút đổ giọt mồ hôi thánh thót trên luống cày. Nên cũng dễ hiểu tại sao anh nói về quê hương bắt đầu bằng tình cảm tri ân sâu nặng, bắt đầu từ Người Mẹ:
Mẹ bỏ quên
Giọt mồ hôi trên đồng
Con cua cái ốc cho tôi cái chữ
Dảnh mạ quắt queo cho tôi rau cháo đỡ lòng.
(…)
Mẹ bỏ quên
Bỏ quên
Những điều tôi lại nhớ
Khói hương này xin dâng tạ mẹ tôi
(Mẹ bỏ quên)
Tôi thích những câu thơ không phải cố gắng lên giọng mà vẫn rõ mồn một là thơ của Trịnh Hoài Linh. Không cần phải giả vờ thành thật, không cần phải lên gân sám hối. Bóng bà, bóng mẹ, bóng chị… những người phụ nữ tảo tần cứ hiện lên những trang đời đắng đót trong thơ anh, chân thành như lời tâm tình gan ruột, được viết bằng sự hàm ân sâu xa:
Người đàn bà nhặt những hạt thóc
lẫn trong cỏ dại
như nhặt nỗi buồn của đất
chấp chới tuổi thơ tôi trang giấy ngày tựu trường
chữ o ngoằn ngoèo cũng từ quả cà
hạt thóc quả bưởi quả cau
lấp lánh giọt mồ hôi người mẹ…
(Người đàn bà nhặt thóc)
Triết lí về cuộc sống của Trịnh Hoài Linh cũng từ những mảnh đời gần gũi, từ làng từ ruộng mà thành hình. Cuộc sống hằn lên bao vết chân chim trên gương mặt, cũng hằn lên bao suy tư trăn trở về một làng quê luôn ám ảnh phận nghèo. Có lẽ nhiều người làm thơ về làng quê cũng có chung tâm trạng này, và đó cũng là thực trạng buồn khi làng quê Việt Nam qua bao đời rồi vẫn cứ đìu hiu nghèo khó buồn bã trong thơ. Nông dân thuần chất thì nghêu ngao đánh lừa cảm giác bằng cái kiểu “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu thú lắm chứ…”; còn có chút chữ nghĩa có chút sĩ diện như Trịnh Hoài Linh lại thưởng thức cuộc sống theo hơi hướng người xưa – của những bậc hiền giả lánh đời. Có lúc học đòi Chống gậy trúc dạo chơi núi Bà, có lúc lại ngẫm ngợi Hương của đất:
Trở về đường đất ta thôi
Khói đồng mênh mang sương khói
Cơm hẩm dưa cà
Vỗ bụng hát
Thân phận con người hề
Bèo bọt phù vân…
Cái lối ca ngợi cuộc sống Hàn cư như thế, thực tình tôi không thích lắm, vì nó cũ. Và yếm thế! Giọng điệu ấy dễ lẫn lộn và cũng dễ bị những kẻ láu cá lợi dụng khen lao, ngâm nga để dễ dẫn dắt đến ngộ nhận ở con người vốn thiệt thà không nhiều tham vọng như Trịnh Hoài Linh.
Trong tập thơ có những bài anh thoát ra khỏi không gian làng, khi anh viết trong vai trò của một hội viên văn nghệ đi dự các trại sáng tác. Chẳng hạn những bài viết về Đà Lạt, hồ Xuân Hương, Vũng Tàu…nhưng đi đâu cũng về lại với làng quê, với những lo toan mưa nắng lam lũ của người miền Trung giữa vùng đất lạ:
Đêm Vũng Tàu tôi thức cùng những người đồng hương
(…)
Họ tựa vào nhau
trở về những căn phòng thuê chật chội
ẩm ướt khi gà vừa cất tiếng gáy
cuộc mưu sinh ngày mai còn lắm vất vả
Dải đất miền Trung như gương mặt nông dân
Người miền Trung cõng cái nghèo lưu lạc.
            (Thức cùng đồng hương)
Có lẽ vì thế cho nên với Trịnh Hoài Linh, làng vẫn là nơi tìm thấy chút yên bình để có thể “bắt đầu từ gốc rạ/tôi nhận ra tôi”, để Cuối năm uống rượu với bạn làm ruộng. Và trên hết, làng là nơi đón nhận những chân tình, là nơi bao người thân yêu cùng gắn bó sinh tử, là nơi kí thác nguyện ước tâm linh. Xin khép lại bài viết bằng bài thơ Về làng – theo tôi như mang trọn nỗi niềm của Trịnh Hoài Linh:
Về làng
Cúi lạy bờ tre
Rêu phong giếng lạn
Chợ quê trưa người

Về làng hầu chuyện rau khoai
Tóc quê lũ rối
Bời bời bão giông

Về làng
Vịn gốc nghĩa nhân
Mai sau con cháu
Vẫn còn chốn quê

Về làng cạn cốc rượu khê
Tỉnh say say tỉnh
Bên lề văn chương

Về làng còn có người dưng
Cho ta nắm đất
Nén hương bìa làng.
Tôi cũng nghĩ, chỉ có Làng mới thật sự đem lại cho Trịnh Hoài Linh một hồn thơ phong phú, để thơ anh có thể gặp gỡ với những hồn tri âm đồng điệu, ươm mầm cho những bài thơ mới của anh kết thành mùa thơ trĩu hạt.
                                                            Quy Nhơn, tháng 11 năm 2010
                                                                        Trần Hà Nam

Nhà thơ Trịnh Hoài Linh

Giới thiệu thơ học sinh – CLB SÁNG TÁC TRẺ (2003)


Bài cho Câu lạc bộ trẻ – Hội VHNT Bình Định
Những vần thơ mang tình đất
Trường Lê Quý Đôn mấy năm nay đã thành địa chỉ đỏ đón học sinh từ các huyện về học. Cùng bao bỡ ngỡ âu lo khi bước chân vào ngưỡng cửa cấp III, các em còn mang theo tâm hồn tươi rói màu đất phù sa và mượt mà giai điệu những dòng sông quê miền Trung xanh ngăn ngắt.
Thơ học trò – mỗi khi chúng ta nghĩ đến mảng thơ này thường lại có một cách hình dung kẻ cả của những người lớn “học trò ấy mà!”. Tôi đã đọc và tôi cũng đã nghĩ như vậy (có lẽ đó cũng là cố tật của người làm nghề dạy học, hay bới lông tìm vết, nhất là thơ ấy lại là của học trò mình). Nhưng quả thật, tôi đã phải một phen ngạc nhiên vì cấu tứ, hình ảnh thơ khá già dặn trong thơ của các em. Vẫn có những lời còn vụng dại, thế nhưng những tâm tình nhắn gửi của các em trong thơ thì không hề non nớt chút nào. Một nỗi nhớ quay quắt hình ảnh mẹ :
Ôi, những mùa đông trôi qua buốt rát
Chắt chiu quê nghèo mẹ lặn lội nuôi con
Bao yêu thương, hy vọng mãi luôn còn
Dãi dầm nắng mưa, nét son mẹ phai dấu
                             (Bến cả -Lê Anh Nguyệt)
Một rung động thiếu nữ được diễn tả bằng những lời thật ngọt :
Chiều chiều, “người ấy” lại đi qua
Hôm nay sao đứng lại bên nhà
Len lén nhìn lên song cửa sổ
Một giàn giấy tím đã nở hoa
                                                (Bâng khuâng – Nguyễn Hà Huyền Trân)
Những tác giả được giới thiệu hôm nay tuổi đời còn rất trẻ, mới qua ngưỡng trăng tròn. Hai gương mặt thơ Nguyễn Hà Huyền Trân và Lê Anh Nguyệt thật ngẫu nhiên lại cùng đến từ huyện Hòai Ân – nơi những ngày qua cuồng xoay những dòng lũ xóay, với bao nỗi đau thắt lòng nhà sập, nước dâng. bởi thế các em không chỉ có những dòng thơ tươi trẻ mà đã chớm hằn những âu lo khi lần đầu xa quê, xa mẹ. Có lẽ quê hương còn nhiều vất vả cũng là nguồn thương làm nên thế giới thơ riêng của các em. Thế giới thơ ấy khác hẳn thơ chúng tôi thời trước, cũng không giống như bây giờ chúng tôi làm thơ về lứa tuổi học trò. Có lẽ một phần vì các em mê thơ, say văn nên đã đến với thơ như nguồn giãi bày những ẩn ức, những tình cảm trong trẻo của thế hệ mình. Tình quê, tình mẹ, bao nỗi niềm được các em thể hiện bằng tất cà những bồi hồi xúc động của học trò lần đầu xa quê. Có ai đó đã nói “Không có thơ trẻ, thơ già, chỉ có thơ hay, thơ dở”, nhưng tôi lại nghĩ khi thơ được soi chiếu qua lăng kính tâm hồn của những người trẻ  lại có một sức sống rất riêng, không phải “cưa sừng làm nghé” như nhiều bài thơ người lớn. Hy vọng rằng những tình cảm được nhen lên thành thơ hôm nay vẫn là một ngọn lửa ủ ấp trong suốt những năm tháng học trò . Đôi khi tôi bỗng thèm mình còn giữ được chất men nồng như thế để cất lên những lời ca ngợi cuộc sống mến thương này.


Nguyễn Hà Huyền Trân

                                                BÂNG KHUÂNG
Tan học thì đường ai nấy đi
Lại theo người ta chẳng nói gì,
Cứ vờ nhìn lá mây trên phố
Rực hồng hoa phượng đến mùa thi

Chiều chiều, “người ấy” lại đi qua
Hôm nay sao đứng lại bên nhà
Len lén nhìn lên song cửa sổ
Một giàn giấy tím đã nở hoa

Tan học chiều nay không có ai
Lặng lẽ đi theo trên lối dài
Phố vẫn đông, sao thấy vắng
Ngu ngơ với gió, bước chân nai

“Người ấy” ra trường vào năm nay
Sân trường vắng ngắt chợt buồn thay
Tiếng ve ngân khúc, thênh thang nhớ
Bất giác vu vơ bỗng nhớ ai.

NHỚ QUÊ
Lên thành phố đã ba năm
Xôn xao trong những đêm nằm nghe mưa
Biết cha đang bận cày bừa
Mẹ lo nhà dột, phên thưa, gió lùa
Thèm ăn cá lóc canh chua
Mẹ mình vẫn nấu mỗi mùa gặt xong
Chiều chiều đi giữa phố đông
Học trò tỉnh lẻ nhói lòng nhớ quê


Nguyễn Hà Huyền Trân
                             TIẾNG QUÊ
Quê mình ngày này đẹp lắm chị ơi!
Đẹp như khi chị tròn mười sáu
Vầng trăng non còn đang ẩn náu
Khoác lên mình chiếc áo nàng tiên
Chị ra đi, chân mải miết triền miên,
Chỉ còn mẹ và những ngày quê nắng đỏ
Bờ đê dài bóng ai sao bé nhỏ
Lấm lem bùn lầy như thuở còn chăn trâu

Thời gian ơi xin hãy trôi mau,
Để chị về cho quê hết tủi
Để mẹ bước ra đồng không lủi thủi
Ruộng quê mình gấp gáp những cánh cò

Thu về, em cảm thấy âu lo
Giấy nhập học ướt nhoè hai mi mắt
Nhà bây giờ chỉ còn mẹ quay quắt
Đợi chị về cùng mẹ và quê hương

MỘT THUỞ MƯỜI LĂM
Những ngày tháng đẹp như trang cổ tích
Trôi qua mau như cơn gió theo mùa
Ta chẳng thể cứ mãi mười lăm tuổi
Sao thương hoài thuở hoa bướm ngày xưa
Mái trường và bao kỷ niệm buồn vui
Hộc bàn cũ, chỗ ngồi quen mùi vở
Vu vơ những buồn vui tưởng chừng vô cớ
Ngỡ đâu mình đã quên…

Khép lại tuổi hồng một thuở quàng khăn
Thời gian làm sao xoá nhoà thương nhớ
Bạn bè ơi! Phải chăng còn mắc nợ
Ứơc một ngày sum họp thoả hàn huyên


Lê Anh Nguyệt

HOA CỎ MAY

Hoa cỏ may
Rơi nhẹ nhàng
Theo gót em về trên con đê nhỏ
Vướng mắt ai nhìn
Bỗng, xa xăm!
Một trời hoàng hôn
Mắt em xanh
Trong thơ ngây biếc lạ
Một mùa hạ vô tình
Lững thững vội đi qua
Cơn mưa hạ
Rơi áo ai, khắc khoải!
Hay mắt em nhìn
Vẫn vô tình như thuở mây trôi…
Rồi một ngày,
Hoa cỏ may
Đưa nỗi buồn
Vào lòng ai thương nhớ
Chợt bỡ ngỡ
Đưa gót quay về
Vấp lối cũ
Hoa cỏ may
Bay…!


Lê Anh Nguyệt
                                  BẾN CẢ
Ngày qua ngày, con ngóng thời gian trôi lặng lẽ
Năm tháng xa nhà con nhớ quá mẹ ơi!
Thành phố phồn hoa nhưng trôi qua vội vã
Đêm khuya về lầm lũi tiếng chổi thưa
                   +
Con đường xưa về quê mẹ sao xa tắp
Bụi quay về lấp loá dấu chân con
Mẹ lên thăm với đôi mắt mỏi mòn
Gió thời gian thổi tóc mẹ thêm bạc
                   +
Ôi, những mùa đông trôi qua buốt rát
Chắt chiu quê nghèo mẹ lặn lội nuôi con
Bao yêu thương, hy vọng mãi luôn còn
Dãi dầm nắng mưa, nét son mẹ phai dấu
                   +
Thời gian trôi như giấc mơ xa vắng
Giật mình con kêu Mẹ giữa đêm khuya
Dù mai đây con mê mải chưa về
Tiếng kêu mẹ con vẫn còn nhớ mãi
                   +
Đêm nay thời gian lại trôi lặng lẽ
Ngóng về quê, con nhớ mẹ quá thôi
Sóng cuộc đời đưa đẩy con dạt trôi
Thì mẹ vẫn là nơi con gối bãi .


Lê Anh Nguyệt

ĐÔI MẮT HÒN VỌNG PHU

Tôi đến thăm người chờ chồng hoá đá

Bên biển khơi bóng bạc hoá rêu xanh
Đôi mắt đỏ mưa lần trôi vết dấu
Mỏi mòn theo nhịp đếm của thời gian
                +
Tôi đã biết đôi mắt người hoá đá
Vẫn mang theo bao chất chứa trong lòng
Mỗi hoàng hôn chim bay nơi phương lạ
Mắt của người hoá đá bỗng rưng rưng
                +
Nơi biển xanh người đi xa chẳng lại
Để mắt người mang sóng biển xa xăm
Tay bế con, đôi mắt sâu vời vợi
Chở đong đầy bao ký ức , tháng năm…
                +
Tôi đến đây
Và tôi đã thấy

Gió thổi đầy đôi mắt  vọng phu.

Bình thơ PHẠM ÁNH (2005) – CLB Sáng tác trẻ


LỐI CŨ ta về…

Đã quen với nếp sống phố thị, hàng ngày đối diện cái chen chúc ồn ào của những cảnh chợ đời, tâm hồn tôi dịu lại khi được gặp những dòng thơ Phạm Ánh, trong tập thơ Lối cũ (NXB Đà Nẵng 2004). Như một khoảnh khắc dẫn dụ của ẩn ức làng quê, thơ anh đưa ta về với đường làng, bóng tre, mái tranh nghèo, hoa dú dẻ, cây cải rau răm, hương bồ kết, mùi rơm rạ… toàn những gì rất cũ rất xưa mà rất thương rất nhớ.

Thơ Phạm Ánh không mới mà vẫn khiến ta xúc động chính vì ký ức làng quê cứ đằm đằm, nhắc nhớ một dĩ vãng không thể nguôi ngoai. Kỷ niệm cứ theo đuổi suốt hành trình nhọc nhằn vượt lên bao mặc cảm số phận, như một nguồn cảm hứng không bao giờ cạn trong thơ anh:

…Tôi tìm về thánh thót tiếng chim

Nơi đồng vắng chiều xanh rất lạ

Câu lục bát trải lòng theo gió

Tôi mềm lòng nghe ai hát dân ca…

(Ký ức quê hương)

Tôi chắc rằng ai đã từng là một cậu bé quê, trước khi là một nhà thơ, sẽ cùng cảm xúc này của Phạm Ánh. Không gian cứ mở ra cùng những nối kết tự nhiên đồng vắng chiều xanh, câu lục bát – dân ca và tiếng chim khắc khoải trong bao chiều thương nhớ, làm sao không thể mềm lòng? Không gian thơ anh là Đề Gi, Hội Sơn, sông La Tinh, Chợ Gồm, Phù Ly, Khánh Lộc… ắp đầy những chất liệu dân dã khúc bài chòi, cái cuốc cái liềm, dây bầu dây bí, bùn lầy lấm lem đã quyện hoà nhuần nhuyễn thành năm tháng ân tình, năm tháng đi về lặng lẽ thời gian để rồi níu thời gian lại lòng đầy bâng khuâng. Không phải tình cờ khi trong 40 bài thơ, anh đã dành hẳn 19 bài viết theo thể lục bát, mỗi bài là một niềm riêng, nhưng xâu chuỗi lại thành một giọng tâm tình chủ đạo trong thơ anh. Các bài còn lại cũng thấp thoáng những thi ảnh ca dao, âm điệu cấu tứ cho đến ngắt nhịp gieo vần. Tôi đã thử làm một phép thống kê trong thơ anh để lý giải cho những cảm nhận một cách “khoa học” hơn: riêng từ láy, anh dùng nhiều nhất những từ đong đưa, chập chờn, thầm thì, lặng lẽ, ngập ngừng, chòng chành, …. Cách nói ấy tạo chúng ta cách nghĩ về một con người hiền lành, không thích những thanh âm ồn ào mà cứ nép mình sống chủ yếu với nội tâm. Những từ láy dày đặc kia chính là điệu hồn của Phạm Ánh đã trải ra cùng thơ, hướng về những vẻ đẹp lấm tấm, long lanh, xôn xao, lấp lánh, phơ phất, dịu dàng, lung linh, xa xôi, ta có thể nhận ra con người anh khá rụt rè, luôn sống cùng những dư ảnh đẹp đẽ thiên về nội cảm, để được nôn nao, bềnh bồng cùng cảm giác thăng hoa sáng tạo của mình. Có lẽ anh có chút gì ảnh hưởng của hồn thơ Lưu Trọng Lư, một chút hồn Nguyễn Bính chân quê (không phải Nguyễn Bính giang hồ). Ta có cảm tưởng như anh làm chủ được ngôn ngữ nhưng không thích vượt ra khỏi cái ngưỡng bình thường giản dị để có những cảm giác phiêu bồng lãng đãng như những thi sĩ bình thường. Cũng phải thôi, anh đến với thơ như một nguồn giãi bày tâm sự, không vu khoát, không cao đàm bù khú như những kẻ tài mọn mà lại thích huênh hoang như chúng tôi. Thơ anh thừa cái nồng mà thiếu cái say, bài nào đọc cũng có cảm giác dễ chịu vì rất thật lòng. Thảng hoặc có vài bài màu mè thì cũng không thoát ra cái mạch ca dao nên nhanh chóng trở về với con người thực của anh. Tôi hiểu, để có đứa con tinh thần này, anh đã phải vượt lên cái tỉnh táo thường ngày để làm cái việc “điên rồ” nhất là tự in thơ. Không phải tìm chút danh mà cuối cùng cũng chỉ là cái tình như muốn trả món nợ lòng đeo đẳng với quê hương. Ngay tiêu đề của các bài thơ đã thể hiện rõ tinh thần của tác giả: Hương quê, Hoa quê, Ký ức quê hương, Phù Cát quê tôi, Đêm xa quê, Chút tình quê, Hồn quê ; rồi lại Vườn cũ, Rêu cũ, Lối cũ, Thu xưa, Nhớ trường xưa, Bến xưa, Cội nguồn với những Xóm nhỏ, Sương chiều, Chiều mưa, Bóng chiều, Ngoại tôi, Chiếc nón. Bởi thế, ta dễ hiểu được vì sao tình yêu tìm thấy trong thơ anh trong trẻo và cảm động đến thế:

Tổ tiên xưa vốn cuốc cày

Sinh tôi nặng nợ bùn lầy lấm lem

Mất còn còn mất bon chen

Mong sao sống với tình em ban đầu

(Cội nguồn)

Những câu thơ rõ ràng là tỏ tình mà vẫn cứ mang nặng chất mộc mạc của dân Bình Định vốn thật thà như đếm! Vậy mà không kém ý tứ sâu sắc, bởi lời ấy là lời ước chuyện trăm năm se tơ kết tóc, nên không ngần ngại bộc bạch ngọn-nguồn-lạch-sông cho em khỏi phân vân, là cách nói chính gốc ca dao như của chàng trai quê thứ thiệt. Có một bài thơ để lại cho tôi một dư vị ngọt đằm của nghĩa tình thủy chung:

Dẫu là ngọn cỏ hạt sương

Đêm tàn trăng rụng nỗi buồn chia ly

Dẫu là sông nước trời mây

Tơ trời ai buộc vơi đầy trong nhau

Dẫu em sương khói về đâu

Tôi còn nỗi nhớ như màu lá xanh

Dẫu buồn em ném vào anh

Trăm năm hạt cát nặng tình bến xưa

(Hạt cát)

Bài thơ đọc lên thoáng chút ngậm ngùi: mất – còn, hợp – tan, tiếc – nhớ, buồn – thương, vậy mà vẫn ấm áp vì tình người đôn hậu. Chao ôi, cuộc đời đâu dễ cho ta hạnh phúc niềm vui, mà lại hay thử thách ta qua những nỗi buồn như định mệnh. Bỗng dưng tôi lại nhớ một lời hát của Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…”. Có phải bài thơ này cũng là một quan niệm như tấm-lòng-gió-cuốn về cùng lối cũ, để tôi nhận ra rất rõ khuôn mặt người thơ Phạm Ánh?

Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005

TRẦN HÀ NAM

Bình thơ TRIỀU LA VỸ (2001)


TRIỀU LA VỸ – CON SÓNG NHỎ ÂN TÌNH
Tôi biết đến thơ Triều La Vỹ trước khi gặp mặt chàng trai hiền lành nhỏ nhẹ này. Duyên thơ như một cuộc hẹn hò để những người chưa hề biết nhau tìm đến với nhau bằng một chút tình đồng điệu. Vỹ xuất hiện trong làng thơ Bình Định không phải bằng sự rụt rè của các cô các cậu học trò bỡ ngỡ mới chập chững làm thơ mà bằng những vần thơ rất có duyên, có sức cuốn hút riêng :Tiếng gì rơi sâu như đêm/Ngẩn ngơ như lá qua thềm nhân gian/Tiếng gì thơm tự bàn chân/Gọi ai ai gọi trăm lần vẫn không/Tiếng gì thở đầy như sông/Biết đâu là bể đau lòng núi non… (Tiếng mưa)
Triều La Vỹ có cách lắng những âm vang của đời thực thành những khoảnh khắc nên thơ, nên tình trong những câu thơ rất nhiều thi ảnh. Chất liệu cuộc sống đi vào thơ bắt đầu từ những hoài niệm, từ những rung động của một tâm hồn đa cảm. Thơ từ thời sinh viên của Triều La Vỹ có cách diễn đạt lạ, cách cảm của thi ca hiện đại lung linh ẩn ức và bùng nổ thành tứ lạ :
Trong cơn nghiện/Ngật ngưỡng trăng về nốc cạn hoàng hôn/Đêm đánh ghen với nỗi buồn thiếu phụ/Nũng nịu đòi hóa đá Vọng phu…/Loài cá sấu bơi qua vũng nước mắt/Hát một bài vu vơ/Nghe từ cái nhìn ngây thơ/Mọc lên một loài hoa mang tên khát vọng…/Loanh quanh mãi một đời/Tròn đợi tròn mong/Khuyết ngày khuyết tháng/Nỗi nhớ ơi/Làm sao mà cai được ?/Chỉ còn cái-nhìn-củi-khô/Chỉ còn làn-son-hờn-tủi(…)(Chiếc bóng)
Đó là kỹ thuật lạ hóa những điều đã thành quen thuộc, lượng hóa những cái không thể cân đo đong đếm. Đại loại như : “Khoảng cách một tình yêu/Là hổn hển một hơi thở/là ngốc nghếch một lời hẹn/là hạt muối ngàn năm/Xót từng góc biển…” (Khoảng cách). Còn bây giờ, khi đã bước chân vào cuộc sống, không chỉ là chuyện kỹ thuật thơ, Triều La Vỹ đã thật sự khám phá được những tứ lạ trong cách so sánh ngộ nghĩnh nhưng diễn tả rất chính xác tâm trạng con người đối mặt với những vấn đề cuộc sống:”Bầu trời là chiếc đồng hồ lỏng dây/Con lắc mặt trời nửa vòng quay đã mệt (…)Một thời vắt chân lên cổ/Bở hơi tai mua sắm được gì/Dè sẻn từng đồng xu tuổi tác/Như ngày nào/ Tôi lẫm đẫm tập đi” (Nhật ký đêm). Vỹ còn tìm tòi trong những hình ảnh quen thuộc từng gắn bó một thời tuổi thơ, những chi tiết bình thường vào thơ Vỹ đã ánh lên vẻ đẹp riêng khó trộn lẫn : “Bên kia lời lá biếc/Lòng khô bao sông hồ/ Tình như con gà nhỏ/Vừa cục tác hôm qua…”(Chiêm nghiệm)
Triều La Vỹ có thế mạnh trong hoài niệm, khi mà không gian thực và mộng đã đan cài vào nhau, thời gian xóa nhòa ranh giới khi ký ức sống động trong lòng. Kỷ niệm khơi ra những góc khuất tâm hồn, những ân tình của tuổi nhỏ với quê hương, của mối tình đầu vụng dại nhưng đã chớm qua vị đắng. Điều đáng quý là sự chân thành đã khiến câu thơ của Triều La Vỹ không sa vào uốn éo làm duyên ngay cả những đề tài dễ khiến người làm thơ sa vào những từ sáo mà ý rỗng :
Đã nghe trong ngọn sóng trào/Tiếng thời gian/Lén bạc đầu/Mà thương…/Đã nghe trong gió vô hồn/Tiếng ngàn cây/Chửa hẹn buồn mà lên/Đã nghe trong giọt mưa đêm/Tiếng ngàn xưa cứ mông mênh tháng ngày/Đã nghe hạnh phúc thở dài/Trên từng sợi tóc mệt nhoài vì yêu/Đã nghe… tiếng dế đăm chiêu/Gọi nhau về với cánh diều tuổi thơ (…) (Hoài niệm)
Từ “Bên kia lời hẹn”, qua một thời “Lá xanh”, người đọc vẫn cảm nhận được một chất Triều La Vỹ – như con sóng nhỏ của dòng sông quê muốn cuộn dâng thác lũ tình cảm nhưng vẫn hiền hòa gần gũi với biết bao người trong dòng chảy êm ái. Những tình cảm được diễn tả trong thơ Vỹ phần lớn đều lặng thầm len lén tâm tư như một khúc hoài cảm :”Mẹ ngồi khâu áo vá/Thời gian lén nhói trên vai/ Tháng năm nấu vàng thành đá/Đúc thành dấu Mẹ một đời” (Ngọc Trai). Có đôi khi, giọng thơ muốn trở thành khinh bạc, bụi bặm một chút, mượn những giọt say, khói thuốc, ném cuộc tình vào và ra khỏi đời nhau thì câu thơ cũng chỉ quặn lên một chút như khúc ngoặt của dòng sông thơ Triều La Vỹ mà thôi. Nhưng âu đó cũng là một cách để người đọc người nghe có thể phát hiện một khả năng bốc cháy hết mình của thi sĩ. Thơ tình Triều La Vỹ đẹp trong những hình ảnh thăng hoa, vẫn giữ được chất nồng nàn của thời sinh viên : “Rong chơi/Cho đã một ngày/Ngủ quên/Để mộng rơi gầy trời xanh/Ai lay cho lá động tình/Ơ kìa… trăng lén theo rình bắt sâu” (Tứ tuyệt cho em) nhưng đã bắt đầu khắc khoải những nỗi đời trần trụi thô ráp : “Đời cứ thức thôi mình mất ngủ/ Cọ vào đâu cho sạch nỗi buồn/ Là ủi tình xưa mới lại/ Áo ai cồm cộm mùa xuân” (Khúc xuân). Tôi muốn những dòng cuối viết cho Triều La Vỹ dừng lại lâu hơn ở những giai điệu mùa xuân của một tâm hồn còn rất xuân :
Cái tình vừa liếc đã xanh
Mùa xuân trẩy nụ vào anh thẹn thò
Xui chi phút gặp tình cờ
Cho anh xin cái hẹn vờ… cầu may
Cái tình vừa rót đã say
Mùa xuân thổi gió trên tay bềnh bồng
Bờ môi rơi xuống phập phồng
Anh trôi không trọn nửa vòng eo ngoan
Cái tình vừa ngấm đã tan
Mùa xuân bắc những nấc thang lên trời
Nhìn nhau lòng rớt mồng tơi
Người ơi hạt đắng bẻ đôi ngậm giùm
Cái tình vừa trách đã thương
Mùa xuân hối hả ra đường lá non
Gối tay lên tiếng tim buồn
Anh xanh hết những dỗi hờn… không em
(Lục bát mùa xuân)
Những câu thơ như vậy của Triều La Vỹ đã giúp tôi tìm lại được một thuở rất nhiều mộng mơ, và tìm lại được những cảm xúc thơ cho chính mình. Còn nhớ buổi đầu gặp gỡ tại Bút Lửa Dzũ Kha, tôi đã lặng người khi nghe những lời thơ của Vỹ gợi về ký ức quê hương thanh bình trong lòng tôi “Lòng đã chín người ơi mau về gặt/nghiêng cánh đồng cho nắng vàng sân/Tre đang ngà trên vai xóm nhỏ/Hoa mướp lay cho bướm tần ngần…” (Mùa gặt). Hình như những bài thơ hay nhất của Triều La Vỹ đều mang một nét bóng dáng quê hương, bởi quê huơng giúp thơ Vỹ có độ chân cảm, lắng đọng và dễ tìm được hồn thơ đồng điệu. Đôi khi, sa vào trau chuốt quá, thơ Vỹ sẽ mất vẻ đáng yêu của buổi đầu mà hóa thành dễ dãi. Đó cũng là điều thường gặp mà khó tránh của những người làm thơ trẻ . Mong Triều La Vỹ cứ nghĩ và viết bằng tất cả tấm lòng thành thực của mình, và giữ mãi một hồn thơ đẹp.
14/7/2001

TRẦN HÀ NAM

Bình thơ LÊ BÁ DU (2002) – Tưởng niệm anh!


TÌNH THƠ LÊ BÁ DU

Lê Bá Du đã qua tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, vậy mà đọc thơ của anh vẫn còn mượt mà những vần điệu của lứa tuổi hai mươi. Anh đã kiên trì hành trình tìm nàng thơ và đã lưu dấu trong lòng bạn đọc được ít nhiều thương mến.
Thơ Lê Bá Du là những mảng hồi ức, những giấc mơ, rất dịu dàng đầy luyến nhớ :
… Đưa em về vùng quê
Mưa đầu mùa bất chợt
Vuốt ướt mái tóc thề
Đọng bờ môi ấm ngọt…
(Kỷ niệm)
Anh không ham hố tìm tòi cách tân thơ mà thường chọn cho mình một giọng điệu tâm tình quen thuộc để gửi gắm những nỗi niềm thơ. Ngay cả trong đề tài cũng thường gắn với những gì rất riêng tư, thường là những câu chuyện nho nhỏ, những giấc mơ xinh xinh. Phải chăng vì vậy phần lớn các bài thơ mới dừng lại ở ý tưởng chứ chưa tạo thành một tứ riêng?Thơ anh đến được với bạn đọc thường là nhờ vào những hình ảnh quen, những suy tư mà người đọc ít nhiều nhận ra chút tình đồng điệu :
Lạc loài giữa phố bơ vơ
Lối ngang đường dọc bàn cờ ngược xuôi
Nửa như tới, nửa như lui
Lòng ai lắm ngả để tôi lạc loài
(Lạc loài)
Anh tự nhận mình là một kẻ lang bạt, phải chăng vì vậy ta nhận ra anh thường khát khao một bến dừng bình yên? Đôi khi trong thơ anh thoáng nét suy tư của một người từng trải nhưng những suy tư ấy chưa thật sự sâu sắc và chưa thật đọng. Những “giọt sầu”, “lỗi hẹn”, “hững hờ” dễ trở thành sáo ngữ, thơ bị lộ ý và trở nên dễ dãi. Nhưng khi những kỷ niệm đã thành máu thịt một đời, thơ anh trở nên đằm thắm lạ thường. Theo tôi, bài thơ thành công nhất của Lê Bá Du là Về thăm Tuy Phước quê em , ở đó đã kết hợp được tình yêu – tình quê hương và rất nhiều trăn trở của một đời lang bạt. Ta nghe được một lời tâm tình rất thật, rất sâu sắc :
Xin người chớ vội đổi thay
Lũy tre khói bếp luống cày mạ xanh
Đời ta lang bạt đã đành
Bỗng dưng phút chốc hóa thành trẻ con
Quả thật, mỗi người chúng ta sẽ mãi vẫn là một đứa trẻ khi về lại cùng quê hương. Cái hay của bài thơ là chỗ quê em đã thành quê anh, để tình đời – tình quê – tình người càng thêm nồng đậm.
Với một người làm thơ đã bước qua tuổi năm mươi như Lê Bá Du, chúng ta không trông chờ có những bước đột phá, những giọng điệu mới mẻ hay một ý tưởng táo bạo như các nhà thơ trẻ. Chỉ mong sao anh giữ được mãi bền tình thơ để góp cho đời thêm những tiếng tâm tình lắng đọng.

*Tác giả LÊ BÁ DU đã mất năm 2008