Bình thơ TRẦN LỄ (2001)


DUYÊN THƠ TRẦN LỄ

Câu lạc bộ Văn học Xuân Diệu được bao nhiêu tuổi thì cũng chừng ấy năm người ta được biết đến một người mần thơ đến rất đều đặn, gần như không buổi nào bỏ các kỳ sinh hoạt. “Ông già Patêsô” – Lão nướng bánh đã đến với thơ như một mối duyên tình cờ và thành̀ người tình chung thủy của nàng Thơ đến trọn kiếp. Mà cũng lạ, đầu bạc, răng rụng, mắt mờ, chân yếu, tay run, ấy vậy mà người ta biết nhiều đến một anh Trần Lễ thơ tình trẻ tráng như thuở hai mươi, sung sức lắm!

Hãy lắng nghe một chút giọng thơ này :

Anh đưa em vào hạ

Em thả cánh phượng hồng

Bay qua miền phố lạ

Chớm mùa sữa “Ya-ua”

Còn giấu trong yếm lụa

Ươm men hườm chưa chua

(Mùa sữa “Ya-ua”)

và :

Sáng nay mình xí được

Nụ hôn trên cúc vàng

Đêm về thơm giấc mộng

Em đến đòi nụ hôn…

(Mộng cúc vàng)

ai có biết chăng người viết nên những vần thơ như vậy lúc đó đã qua cái tuổi “thất thập cổ lai hy” lâu rồi. Chất trẻ trung, tươi mới trong thơ Trần Lễ không phải là cách làm duyên, uốn éo đến khó chịu ở một số người cố tỏ ra mình trẻ mà xuất phát từ một tâm hồn còn rất mặn nồng với Tình Yêu – Thiếu Nữ. Nói đến một Trần Lễ trẻ, không hẳn chỉ là những vần thơ hướng về tuổi trẻ, mà còn có thể nhận ra sự trẻ trung trong suy nghĩ của một con người coi thơ là một điều rất thiêng liêng, coi những ân tình giữa cuộc đời là điều đáng trân trọng. Trong thơ Trần Lễ có những khoảnh khắc suy tư của một người tâm hồn đã chín :

Chờ em bên tách cà phê

Giọt đen đắng đọng lòng tê tái sầu

Biết rồi, em chẳng đến đâu

Mà tôi vẫn đợi thâm sâu với tình

Tách cà phê cũng thương mình

Nhỏ buồn

Giọt chậm

Cho mình

Đợi em…

(Đợi)

Không biết người ấy đã phải chờ đợi bao lâu khiến thời gian cứ tí tách rơi buồn, đọng đắng? Để có được duyên thơ tri kỷ ấy, nhà thơ của chúng ta đã phải trải qua biết bao tháng ngày cơ cực vật lộn với đời : kéo xe ở Sài Gòn, làm vôi Long Thọ, bán kẹo ăn mì vất vưởng, thui thủi ra đi… Những ngày tha hương đằng đẵng của một kiếp người vẫn đọng lại một nỗi niềm không nguôi hướng về quê hương với kỷ niệm xót xa: “Mấy chục năm xa Huế/Gởi về quê tấm lòng/ Con tằm không dứt được bãi dâu/ Tôi làm sao quên được mùi cơm hến/Nón rách chờ em đêm mưa bến Ngự/Chén bánh bèo đỡ dạ dốc Nam Giao…”Tình quê” ấy đau đáu đã kết thành những vần thơ từ những lúc hoa niên đến khi thành ông lão :

Miệng móm cười méo xẹo

Chiếc bánh nở tròn vo

Đêm dài con dế hát

Ngọn đèn thức đợi chờ

Nhện mỏi mòn đan tơ…

(Lão nướng bánh).

Tôi nhận ra một điều rất quý giá trong những bài thơ hay của Trần Lễ : đó là sự chân thành và điềm tĩnh. Có những bài thơ như một lời kể chuyện rất thật thà về cuộc đời nhiều sóng gió, có những bài lại là một rung động bất chợt trước Hoa – Thiếu Nữ trong một không gian mang dáng dấp Cổ Tích, Huyền Thoại. Thơ tình Trần Lễ phần nhiều là Tình Thơ – một mảng hồi ức đẹp, một thoáng bâng khuâng trước vẻ đẹp cuộc đời. Nhưng có lẽ đọng nhiều ấn tượng nhất là những giấc mơ đan xen cả hạnh phúc và khổ đau, để người “mần thơ” ấy nghe được tiếng lòng sâu thẳm của mình : “Mở mắt thấy hoa đẹp/Nhắm mắt thấy mình già/Thời gian mòn quá khứ/Không gian thì bao la (…) Hôm nay mình còn lại/Nỗi vui buồn cho nhau/Bốn mùa hoa vẫn nở/Bốn mùa không trước sau” (Hoa bốn mùa). Rõ ràng sự cảm nhận của Trần Lễ tưởng như giống thi nhân đời Đường mà đã khác Đường thi nhiều lắm. Sự khác biệt xuất phát từ một hồn thơ không sợ già, không sợ chết: “Lỡ mai em về/Anh không còn nữa/Xin em đừng đặt hoa lên mộ đá/Nguồn thương yêu anh gởi cả em rồi!” (Xin em).

Giọng điệu Trần Lễ thích hợp với nhịp ngũ ngôn gợi lên những hoài niệm và nhịp lục bát truyền thống gợi những cảm xúc ngọt ngào. Những bài thơ tự do đọng lại thường là câu chuyện kể xúc động, dù đôi khi vần điệu chưa chặt chẽ nhưng chính điều đó mới làm nên một nét riêng. Tôi đã từng nghe ông nói rất say sưa về thơ và rất chân thành nghe đóng góp của anh em thi hữu để sẵn lòng chuốt lại câu thơ. Nhưng đôi khi sự đẽo gọt ấy làm mất đi chất Trần Lễ trong ông. Chẳng hạn bài thơ “Chiếc nón” đã từng đọng lại rất lâu trong tôi cái mộc mạc “Đến tặng em chiếc nón/Từ Huế tôi mang về…” giờ đây khi tác giả sửa lại : “Tặng em chiếc nón Bài Thơ/Vấn vương từ Huế mang về…”, tôi thấy lòng mình nguội đi nhiều lắm! Đâu cứ phải “nón Bài Thơ vấn vương”, “chừ”, “mô” mới ra chất Huế ? Tôi mong được đọc Trần Lễ nhiều ở những bài giản dị nhưng rất có hồn, để giữ được trong lòng mình một bác Trần Lễ, anh Trần Lễ quý mến chân tình trong lời thơ rất nhiều nhớ thương dào dạt:

“Tiếng đàn Xuân vời vợi

Trăng mười bốn thơ thơ

Sao giăng đèn phố biển

Sóng hát vỗ xanh bờ”

(Chiếc lá Sydney)

Thương và quý lắm!

14/11/2001

TRẦN HÀ NAM

Bình thơ CLB Sáng tác trẻ (2003)


Xương rồng ủ kín niềm thương

Đã bao lần tôi đi ngang qua số nhà 30 Nguyễn Văn Bé, nhưng bằng đôi mắt vô cảm và pha chút tò mò khi thấy những đứa bé làm dấu nói chuyện với nhau bằng tay. Tôi không hiểu chúng, và cũng chưa khi nào tôi đặt câu hỏi băn khoăn cho số phận của những đứa bé tật nguyền. Tôi cũng chưa khi nào để tâm đến số nhà 100 đường Phan Bội Châu – nơi đặt Cơ sở dạy nghề miễn phí Nguyễn Nga. Cho đến khi tôi gặp những bạn trẻ khá đặc biệt lê từng bước nặng nhọc lên gác 3 của Hội VHNT để dự buổi sinh hoạt thơ. Họ ngồi khép nép ở một góc phòng, chăm chú nghe những nhà thơ đàn anh đọc sáng tác. Rồi đến khi tôi nhận được tuyển tập thơ văn “Những vì sao mơ ước” với lời đề tặng trân trọng, tác giả chính là những con người lặng lẽ làm khán giả hôm nào. Tôi đã chăm chú tập trung đọc những bài thơ của các anh chị em sáng tác. Và chợt nhận ra một điều: hình như bản thân tôi mới là người khuyết tật nếu đem so tâm hồn tôi với các bạn. Bởi lẽ, đôi khi tôi rên rỉ quá nhiều cho những thiệt thòi bản thân, dù rằng những mất mát chẳng thấm tháp gì so với nhũng mất mát, mặc cảm mà các bạn đã một thời gian dài đeo đẳng một cách âm thầm. Tôi còn là một kẻ vô tâm, thờ ơ trước nỗi đau đồng loại, tôi đã nhìn những bé câm đùa giỡn bằng con mắt của một người thường, với lòng thương hại nhiều hơn là nghĩ rằng trong bao con người ấy, có một điều lớn hơn và họ cần hơn là lòng thương hại bao la: họ muốn tự khẳng định mình giữa cái thế giới bình thường lành lặn này. Chín cây bút đã chọn cho bút nhóm của mình cái tên giàu ý nghĩa : “Hoa Xương Rồng”. Tôi chợt nhớ câu thơ của người bạn: “Xương rồng ủ kín niềm thương – Đất cằn nắng nghiệt bình thường nở hoa” (Võ Ngọc Thọ), những lời thơ ấy dường như đã nói lên rất đúng vẻ đẹp của loài hoa nơi gió cát. Những niềm thương ủ kín đã được khơi dòng thành những câu thơ lời văn đầy ước mơ, yêu đời lạc quan vượt lên số phận. Tôi đã được đọc, không phải là câu chữ thông thường mà trong đó ẩn chứa những số phận. Một Thuý Hoa trong trẻo với “Tình Xuân” – có ai biết cô gái ấy đã tự đứng lên bằng đôi chân của chính mình chỉ bằng thơ văn của một tâm hồn giàu nghị lực. Đặng Thành Tâm với “Bạn tôi”, Phạm Ánh với “Khúc ca cho em”, Nguyễn Thị Tuyết với “Một đôi” đã quên đi nỗi đau của chính mình để viết về bạn bè bằng những thương mến nồng nàn và lời động viên chí tình. Hay đọc thơ Đoàn Trọng Nghĩa, Yến Hoà, Đồng Thị Nga, Anh Đào, Trà Mỹ Nga với bao tâm sự, khát vọng yêu và sống mãnh liệt, có ai hiểu họ đã phải từng bước vượt lên mặc cảm để đến với đời bằng cả tấm lòng? Tôi chợt nhận ra sự vô duyên đến thừa thãi của mình khi ra sức tán tụng bình phẩm thơ của những con người này, bởi lẽ khi Thơ đã hoá thân vào Đời, độ chân cảm có giá trị hơn bất cứ một sự bình phẩm phân tích nào. Con đuờng của họ còn bao tháng ngày vất vả mưu sinh, công việc của họ đâu chỉ dành cho riêng mình mà mỗi việc làm thường nhật không tên cũng như những vần thơ câu văn được viết lên kia, đang tiếp thêm nghị lực niềm tin cho bao người cùng cảnh ngộ. Riêng tôi , khi đón nhận thơ văn của bút nhóm Hoa Xương Rồng, tôi biết mình vừa có thêm những người bạn tốt, những người bạn giúp tôi cảm nhận rõ hơn và tin tưởng hơn giá trị đích thực của văn chương chân chính giữa đời này.

II. Một số gương mặt thơ sinh viên :

Quy Nhơn trong suy nghĩ của nhiều nhà thơ, nhà văn đã là thành phố thi ca. Biển sóng Quy Nhơn dào dạt ân tình đã đón những con sóng thơ từ các miền quê khác về đây tụ hội: Lê Kiều Hưng – một chàng trai Thanh Hoá, Nguyễn Thị Lam – một cô gái Hà Tĩnh, Nguyễn Thị Hồng – cây bút sinh viên người Nghệ An mà sáng tác của họ đã rải rác xuất hiện trên các tập san học trò Aùo Trắng, Mực Tím và tạp chí Văn nghệ Bình Định. Có lẽ khác với thời chúng tôi còn ngồi tại giảng đường Sư phạm Quy Nhơn, sinh viên thế hệ bây giờ mạnh bạo hơn, va chạm với cuộc sống nhiều hơn và thơ của họ cũng dám nói cả những điều mà thế hệ chúng tôi chỉ trước họ không bao lâu chẳng bao giờ dám hé lộ. Nhưng điều làm nên phần ngọt ngào lắng đọng nhất của các sinh viên này vẫn là những tâm tình hoài niệm hướng về quê hương và cái chất lãng mạn sôi nổi mau buồn chóng vui của tuổi trẻ không lẫn vào đâu được. Những trải nghiệm từ cuộc sống sinh viên sẽ là thứ thuốc thử hữu hiệu để gạt dần đi những xô bồ hỗn tạp, những giọng điệu ồn ào, những triết lý vụn vặt, những buồn thương vơ vẩn, vụn vặt riêng tư để cái còn lại cuối cùng là họ tìm thấy gương mặt của chính mình trong gương mặt cuộc đời. Đúng như suy nghĩ của Nguyễn Thị Hồng: “Phải viết. Có lẽ thế. Tuổi trẻ để phát ngôn một quan niệm thật khó”, những sinh viên đang bước vào thế giới người lớn viết để thử nghiệm, để giải bày, để được sống hết mình bằng chất men nồng của những người trẻ tuổi. Thơ sinh viên còn không ít những suy tư chưa chín, đôi khi thật thà như chuyện trò hàng ngày, nói cho hết, nói cho thoả những cảm xúc ấp ủ trong lòng… Nhưng có nhiều bài, nhiều tứ thơ thật bất ngờ, lắm khi làm chúng ta phải giật mình vì độ già dặn mà vẫn rất trẻ, rất tha thiết mê đắm mà lắm khi những nhà thơ “chuyên nghiệp” không thể nào viết được. Phần lớn những bài thơ ấy đều gắn với thế giới rất riêng tư của lứa tuổi khát sống, giàu mộng tưởng. Trên hành trình thơ nhọc nhằn, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự bứt phá. Các cây bút sinh viên có thừa sự thông minh và nhạy cảm, cùng ý thức phải viết, chắc chắn chúng ta sẽ còn gặp được họ trong những đề tài vượt ra những hoài niệm đắm chìm, không chỉ viết về cuộc sống sinh viên mà còn cảm nhận sâu sắc và chân thực hơn về đất nước, quê hương . Mảnh đất Quy Nhơn ân tình muối mặn sẽ là một nguồn cảm hứng giúp họ bay trên đôi cánh thi ca.

Thơ sinh viên:

LÊ KIỀU HƯNG

BÊN DÒNG SÔNG MÃ

Ngày ấy mẹ tiễn cha ra chiến trường

Chiếc khăn chơi vơi giữa lưng chừng trời đất

Cạn khô bao dòng nước mắt

Chiếc nón cời huơ động cả hoàng hôn

Lũ bạn mình bắt ốc mò gion

Áo rách chân trần nước da đen đủi

Rưng rức thương những cuộc đời lầm lũi

Bát canh chua chan cả nắng mưa về

Tiếng sáo diều vang vọng bờ đê

Rớt xuống lòng sông giấu nỗi niềm chất chứa

Cô gái lấy chồng bên kia không về nữa

Để bao gã trai làng ngẩn ngơ…

Nằm ưu tư chênh chếch một con đò

Vểnh tai run những chiều mưa đổ

Tiếng gọi đò trôi dọc triền sông lở

Bên kia bồi sông đau đáu điều chi?

Và bây giờ mẹ lại tiễn con đi

Bên dòng sông hương mùa đang căng nứt

Ngô lúa non tơ xanh màu xanh mơ ước

Nước sông gieo rười rượi ấm bên lòng…

.——————-


TRỞ VỀ

Anh dắt em về với tuổi thơ

Cây Kơnia vẫn một mình đứng đó

Phố núi chợt hoá thành con suối nhỏ

Biển hồ khát khao rong ruổi một cánh buồm

Em nhìn sâu hơn vào đôi mắt mẹ buồn

Thấy hanh hao Dã quỳ vàng rực cháy

Mùa khô lại về trên nương rẫy

Và… suốt đời đắng lịm trái cà phê!

Đêm trở mình giữa lòng mẹ Ban mê

Chợt rưng rưng ánh trăng mòn hao khuyết

Qua bao mùa nắng mưa giờ giật mình mới biết

Cái mất – còn rút ruột trái tin yêu

Giờ mới thấy thương những đợt nắng cuối chiều

Mẹ ơi! Mùa giăng đầy trên tóc

Lần thứ hai trong đời biết khóc

Khi con trở về với ấm áp thương yêu…

.————–


BỨC TRANH

Tựa cằm bó gối ngồi im

Nhắm hờ đôi mắt lặng tìm chơi vơi…

Thật rồi em đã xa tôi

Em đi

Để nửa cuộc đời cho ai?

.—————

BÃO

Lời rung tiếng cũng nghẹn ngào

Giọt trăng mặn chát tan vào tim đơn

Nói lời chi để buồn hơn

Tình thôi nổi gió thành cơn

Bão lòng!

.————–

TRĂNG NỬA KHUYA

Nửa khuya trăng sáng vô cùng

Sáng quay quắt sáng cho lòng mênh mang

Sáng da diết đến dịu dàng

Trăng càng sáng anh lại càng vắng em

.—————

HOA MƯỜI GIỜ

Hỏi rằng ai đẹp như em nhỉ

Làm ngất ngây bao gã tình si

Đời chẳng cho em người tri kỷ

Thì thôi đành khoe sắc mà chi?…

.——————-


VỀ THĂM NGOẠI

Con lại về đây giữa lòng thơm thảo

Gặp tuổi thơ mơ bảy sắc cầu vồng

Đã qua rồi bao mùa xưa mưa bão

Mà nặng lòng vương những cơn giông!

Đi giữa đường quê say mùi gió mới

Bức tranh quê hương tươi thắm một màu

Sóng lúa dạt dào ngạt ngào hương bưởi

Nghe nắng cười đon đả hỏi thăm nhau

Tuổi thơ ngây riêng gửi niềm quê cũ

Và con đi không biết mấy dặm đường

Qua bao mùa trong vườn hoa trái chín

Ủ ấm lòng con những yêu thương.

Cuối mùa vui hoàng hôn in bóng ngoại

Thời gian trôi bỏm bẻm thắm miếng trầu

Mừng cháu mừng con công thành danh toại

Con rưng buồn nghe lá rụng vườn sau…

.————-


ĐIỀU ANH MUỐN NÓI

Anh chẳng chạm vào ký ức của em

Sợ làm rung dây cung buồn xa vắng

Em đã vùi chôn vào trong quên lãng

Năm tháng khuất rồi sau trái tim em

Anh nhắc làm gì dĩ vãng của đêm

Là bóng tối của rối mùa mùa nông nổi

Em đừng về con đường xưa lạc lối

Thuở dại khờ nào biết đến khổ đau

Nắng lại hồng sau một thoáng mưa ngâu

Đem cho em bầu trời trong xanh biếc

Có những điều không đáng để mình nuối tiếc

Thì cớ gì phải vương vít buồn đau…

.——————


VỚI ĐÊM

Anh đứng giữa đêm biển lồng lộng gió

Sóng khẽ ru ngân một khúc nhạc buồn

Đêm nghiêng mình suy tư trăn trở

Thao thức hoài một bóng dáng yêu thương

Muốn cùng em đón mùa vui rộn rã

Lại e trời vương vít chuyện gió mưa

Đêm thắp nến anh vẫn còn khờ quá

Lỡ như em lạc bước phía không mùa!

Anh đứng giữa đêm biển tràn ngập gió

Mà con tim ngột ngạt đến không ngờ

Đêm giấu diếm điều gì chẳng rõ

Nên dối lòng ngay trong cả giấc mơ

Anh với đêm giữa lưng chừng phố biển

Chơi – vơi – ơi! Anh khao khát chính mình

Bên này sóng nửa bên kia cũng sóng

Câu thơ gầy em có thấy chông chênh?

.———————–


THƠ GỬI MÙA ĐÔNG

Quy Nhơn bốn mùa dang dở

Thu – Đông – Xuân – Hạ nửa chừng

Ai đi tìm trong nhung nhớ

Nhặt về chút lạnh rưng rưng

Gửi cho mùa đông ngoài nớ

Chút hanh hao ở trong này

Xa xôi thôi đành nhắc nhở

Tự tìm hơi ấm bàn tay

Em khoác mùa đông xuống phố

Ta quàng nỗi nhớ lên vai

Nửa đêm giáo đường chuông đổ

Vọng ngân đôi tiếng thở dài…

Bình thơ: Thời gian


Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh

Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm

Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?

Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân.
H.M.T
(Đau thương – phần Hương thơm)
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những hiện tượng đặc sắc của phong trào Thơ Mới Việt Nam (1932 – 1945), đặc biệt ở tập thơ Đau thương (tức Thơ Điên) đã có một sự kết hợp độc đáo của một tâm hồn thống khổ vì bệnh tật, tình duyên, bị tách biệt khỏi cuộc đời với một khả năng trác tuyệt của một cây bút sáng tạo cách tân để tạo thành những bài thơ cho đến nay vẫn chưa thể giải mã được cặn kẽ. Đứng từ góc độ thi pháp học, người viết xin nêu một vài suy nghĩ nhỏ về thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm cụ thể: bài thơ Thời gian , nằm trong phần Hương thơm của tập thơ Đau thương.
Trước khi sáng tác thơ mới, Hàn Mặc Tử đã nổi tiếng là một người làm thơ Đường luật điêu luyện. Bởi thế, chắc chắn nhà thơ không hề xa lạ với những quan niệm thời gian đã thành khuôn mẫu, chuẩn mực truyền thống của luật thơ có ảnh hưởng đến cả hàng nghìn năm văn học phương Đông này. Thời gian trong thơ Đường với những đặc trưng: thời gian bất biến gắn với không gian vũ trụ, những biểu tượng thời gian mang ý nghĩa ước lệ tượng trưng. Bởi thế, muốn thấy rõ dấu ấn thay đổi quan niệm nghệ thuật từ thơ cũ sang thơ mới, không thể không phân tích sự thay đổi quan niệm về thời gian trong thơ của Hàn Mặc Tử, ý thức thời gian gắn liền với cảm quan thẩm mỹ của thơ mới, với cái tôi cá nhân cá thể ý thức được sự hiện hữu cũng như muốn bày tỏ khát vọng chiếm lĩnh vẻ đẹp, bộc lộ chính mình. Lấy nhan đề bài thơ là Thời gian , phải chăng nhà thơ muốn phát biểu trực tiếp quan niệm của chủ thể trữ tình, quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn muốn phá bỏ những thành trì của thơ cổ điển?
Trước hết có thể nhận ra nhà thơ muốn hợp nhất thời gian với tình yêu và tuổi trẻ, trong sự đối lập với thời gian đã qua với thời gian hiện tại. Đó không phải là thời gian vô hình mà là thời gian đã được vật chất hoá, có thể nhận biết qua các dấu hiệu ngôn ngữ biểu trưng và sự kết hợp ngôn từ độc đáo: thời xanh, mùi vị thơm tho, ái tình. Thời gian ấy không phải của kiếp người, đời người gắn với cảm nhận nhân thế, thời thế mà cụ thể hoá trong thời gian cá thể: một ái tình! Xuất hiện ngay từ khổ thơ đầu của bài thơ là một cảm thức tiếc nuối thời gian một đi không trở lại trong cấu trúc câu hỏi “còn đâu…?” tạo nên cảm giác hụut hẫng, mất mát, không giống với sự trôi chảy thông thường mà đồng nghĩa với mất mát tuổi trẻ và tình yêu. Thực ra cảm thức về sự mất mát này từng được nhắc đến trong thơ cổ điển với tần số không ít, cả thơ Trung Hoa lẫn Việt Nam nhưng các nhà thơ xưa thường cảm nhận sự bất biến của thời gian trong quan niệm thời gian tuần hoàn của vũ trụ đối lập với thời gian đời người mất đi vĩnh viễn. Hàn Mặc Tử đã tuyên chiến với quan niệm ấy bằng thái độ dứt khoát, thách đố với những chữ đố, đừng tưởng hướng vào những người ôm ảo tưởng về thời gian vũ trụ tuần hoàn.
Bằng thái độ phủ nhận, nhà thơ đã phát biểu rõ quan niệm của mình trong khổ thơ thứ hai:
Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm
Theo cách nói này, cũng có nghĩa là không có “ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (dịch thơ Thôi Hiệu đời Đường), biểu trưng của thời gian vũ trụ bất biến, tuần hoàn. Điều đó cũng có nghĩa là không có sự hiện hữu của quá khứ trong thời gian thực tại, trong vẻ đẹp hiện thực. Tác giả định danh và liên tưởng các giá trị thời gian bằng chuỗi từ ngàn xưa – hồn xưa – cõi hư vô, nhằm khẳng định một giá trị âm. Những cái “xưa” ấy chỉ là “hư vô”, tập hợp rỗng. Cùng với hồn xưa không về nữa từ ngàn xưa – thời điểm được xác định là tự ấy đồng thời làm hiện lên một không gian trống vắng, hoang lạnh, điêu tàn, càng làm tăng ấn tượng đau thương. Vậy thì hương thơm có tồn tại trong thời gian này hay không? Cái gì còn lại khi ngàn xưa, hồn xưa đã biệt mù tăm tích?
Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?
Nếu như ở hai khổ đầu là cảm nhận về thời gian thực thì đến khổ thứ ba này Hàn Mặc Tử đã “ảo hoá” thời gian. Có một sự kết hợp rất độc đáo quan niệm của thơ lãng mạn, thơ tượng trưng với các biểu tượng của thơ ca cổ điển Trung Hoa. Nếu lớp bụi, thời gian quá khứ đánh dấu sự tan rữa của giá trị vĩnh hằng – kiên trinh như nhà thơ đã tuyên bố thì phải chăng ở khổ này ông tự mâu thuẫn với chính mình. Khác với các nhà thơ cổ điển nhận ra ở trăng sao sự đồng nhất hay tuần hoàn của thời gian vũ trụ thì Hàn Mặc Tử chỉ thừa nhận ý nghĩa biểu tượng ánh sáng – cái đẹp tồn tại vĩnh hằng mà thôi. Ánh sáng bất diệt ấy vượt qua quy luật của thời gian, thể hiện khát khao hướng về cái đẹp tuyệt đối của thi sĩ lãng mạn Hàn Mặc Tử. Ở ý thơ này, Hàn Mặc Tử cũng đối lập với một nhà thơ mới khác là Xuân Diệu (Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn – Giục giã). Hàn Mặc Tử hướng về Cái Đẹp tuyệt đối, tạo ra một địa chỉ lưu giữ vĩnh viễn vẻ đẹp thời gian trong con người hiện tại. Ngôn ngữ đối thoại như người đồng thời với Tây Thi – người đẹp thời Chiến quốc đã xác lập mối quan hệ thời gian xưa – nay một cách độc đáo, tạo thành dòng thời gian tâm tưởng, thời gian khát vọng vượt qua hư vô một cách mãnh liệt. Qua đó, nhà thơ bộc lộ cảm giác mê đắm ngất say trước vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà.
Khát vọng hướng về cái đẹp đã khiến nhà thơ rơi vào trạng thái hoang mang, khẩn cầu trước quy luật của tạo hoá. Đó cũng là mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới. Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng thường trực ý thức về thời gian gắn với cái đẹp khiến các nhà thơ mới gặp nhau trong quan niệm. Cũng giống như Xuân Diệu muốn “tắt nắng”, “buộc gió” cho “màu đừng nhạt mất ”, “hương đừng bay đi” thì Hàn Mặc Tử đã khấn nguyện da diết:
Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân
Rõ ràng một mặt nhà thơ nắm rõ quy luật vận động của thời gian, mặt khác nhà thơ lại muốn cưỡng quy luật biến đổi ấy. Đó là mâu thuẫn bên trong của tâm hồn yêu cái đẹp, xung đột giữa hiện thực và khát vọng không thể hoá giải. Nhưng đó cũng là cách nhà thơ khẳng định lòng mình, trân trọng nâng niu những khoảnh khắc thời gian hằng sống, bộc lộ cái tôi cá nhân mãnh liệt nhất. Trái tim vẫn giữ màu tươi của tình yêu, của cái đẹp đến muôn đời. Bài thơ giúp ta hiểu hơn về quan niệm thời gian, quan niệm sống của Hàn Mặc Tử, đồng thời hiểu thêm giá trị của Cái Đẹp, của Tình Yêu qua những vần thơ chan chứa tình yêu sự sống và con người của nhà thơ.

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2007
TRẦN HÀ NAM

Bình thơ: Mùa Xuân Chín


Mùa Xuân chín
(Hàn Mặc Tử )

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
1939
    Mùa xuân – qua nét phóng bút tài hoa của Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên duyên dáng và có sức cuốn hút lạ thường. Xuân như thiếu nữ mơn mởn đào tơ, tràn căng sức sống, song xuân không hiện lên rõ nét mà cứ huyền ảo, như thực như hư. Không thể chỉ đọc từng câu từng chữ mà cảm được bài thơ. Cần cảm thụ quyện hòa từng luồng cảm giác.
    Mở đầu bài thơ là một khung cảnh được từ từ hé mở. Không gian tươi mát, rõ ràng. Thi sĩ rắc màu lên từng cảnh sắc. Lấm tấm vàng của mái tranh, biếc xanh giàn thiên lý. Chợt nghe như sự sống bừng dậy, bỡn cợt, gợi tình. Câu thơ chuyển mạch rất nhanh với cách ngắt nhịp tài tình “bóng xuân sang”. Cảnh mới thực bỗng thoắt trở nên mơ hồ. Bóng xuân lướt nhanh ẩn hiện làm ta ngỡ ngàng. Mùa xuân,  qua con mắt thi nhân, phập phồng sức sống. Màu xanh tươi lan tỏa ngút mắt. Vút lên cao là tiếng hát tuổi xuân xanh. Màu sắc, âm thanh trộn đều tạo một không gian động, hồn nhiên thơ mộng. Tưởng chừng ta gặp hồn thơ Nguyễn Du qua vẻ đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời”, song ta nhận ra Hàn Mặc Tử bởi những cảm giác quẫy mạnh trong từng câu thơ, ta cảm được cái rùng mình của mùa xuân qua làn “sóng cỏ”. Thi sĩ lặng mình trước mùa xuân, chợt bâng khuâng nhủ lòng mình :
    “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
    Câu thơ lắng nỗi buồn nhẹ nhàng, man mác cái buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại. Không giục giã, hối hả gấp gáp như Xuân Diệu “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi tình non sắp già rồi!” nhưng với hai câu thơ này Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc những đợt sóng ngầm tình cảm gấp gáp, hối hả mà duyên dáng lạ thường.
    Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng : “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc. Thấp thoáng đâu đây khuôn “mặt chữ điền” như thơ Đường; mà lại có vẻ hồn nhiên, rụt rè của cô gái tơ mới lần đầu hò hẹn. Âm thanh, cảm giác được đẩy lên cao vút, nao nức, bâng khuâng.
    Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm nguời đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:
    “Chị ấy năm nay còn gánh thóc
    Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?”
    Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương  từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha.
    Bài thơ của Hàn Mặc Tử đầy nhựa sống như tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Với mùa xuân, Hàn Mặc Tử yêu say đắm, điên cuồng : “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” – lời của thi nhân đã được đem vào trong bao áng thơ diễm tuyệt, kết tinh hương sắc làm nên một “mùa xuân chín”.

                            Trần Hà Nam
GV trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định

Bình thơ : Những giọt lệ


NHỮNG GIỌT LỆ
                            Hàn Mặc Tử
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Để khối lòng tôi cứng tợ si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã , mến chưa bưa
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

    Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống
                            HÀN MẶC TỬ

    Những giọt lệ thơ đã bắt đầu bằng những lời tự vấn lòng mình trong nỗi ám ảnh của sự sống bị hủy diệt. Một lời van, một nỗi hờn, một cảm giác đớn đau vì thất tình đã hòa tan vầng mặt trời trong máu. “Bao giờ… bao giờ… bao giờ?”, tất cả những lời ấy như một cơn lốc xoáy cuộn tâm hồn vào chốn hư vô băng cứng. Đàng sau mong mỏi được chết là khát vọng sống riết róng; đàng sau lời chối bỏ tình yêu là trái tim ngộp thở vì yêu, đàng sau sự đóng băng xúc cảm là nỗi lòng đang tổn thương, lột xác trở về vẹn nguyên hình hài ban sơ yếu ớt run rẩy vì tuyệt vọng. Cảm giác ấy chỉ có thể và phải là Hàn Mặc Tử diễn đạt thì mới thực. Bởi nó được viết ra giữa lúc thống khổ dâng tràn.
    Ở đâu, cội nguồn của những tổn thương dày vò ấy? Là hoàn cảnh “họ đã xa rồi” ư? Nhân gian bao lần nhỏ lệ biệt ly! Hay là do “khôn níu lại”? Cũng chẳng có gì mới mẻ những nuối tiếc về một điều quí giá đã mất đi. Sự lý giải nằm ngay trong ẩn số của tâm hồn :
Lòng thương chưa đã , mến chưa bưa
    Đó là khát vọng mãnh liệt nhất đã tan thành mây khói, lững lờ trong những chữ “chưa” đau đáu khát khao. Nếu dùng chữ “không” để tăng thêm cảm giác tuyệt vọng thì thực chất bài thơ sẽ bị hỏng hoàn toàn. Có lẽ Hàn Mặc Tử cũng chẳng phải đắn đo những chữ “không” – “chưa” như một thi sĩ mới học nghề muốn cường điệu hóa cảm xúc. Bởi trong giờ phút ấy, chỉ có tấm lòng thành thực nhất mới tự nhiên kết thành chữ “chưa” đầy nước mắt, ám ảnh của những hạnh phúc đã trải qua và nỗi bất hạnh thực tại. Thời gian ngưng đọng trong khoảnh khắc để nhà thơ ý thức rất rõ khoảng trống chân không vô trọng lực của lòng mình. Tất cả quay cuồng, đảo lộn, là cảm nhận :
Tôi điên tôi nói như người dại
Van lạy không gian xóa những ngày
Là sự hòa trộn:
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây tiếng khóc giọng cười chen nhau
Là nửa mê, nửa tỉnh, nửa chết nửa tồn tại :
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
Trong tiếng lòng của thi nhân, ta nghe một nỗi niềm thiết tha cùng cuộc sống, với con người. Tình Yêu ấy đâu chỉ là tình cảm lứa đôi mà còn là tình yêu lớn thi nhân dành cho đời. Vậy nên, trong giờ phút biệt ly thống khổ, nhà thơ đã bộc lộ niềm đau dâng lên đỉnh điểm.
    Khổ thơ cuối là sự diễn tả chi tiết của trạng thái thất tình, từ nhận thức đến vô thức, trong cái nhìn chập chờn ảo ảnh. Sẽ chẳng có gì đáng nói ở khổ thơ này ngoại trừ những dẫn chứng tuyệt đối chính xác cho một bác sĩ tâm thần học, nếu như không có “những giọt châu” khép lại bài thơ. Đó là phẩm chất của “những giọt lệ” tình. Để gọi về một Tình Yêu sống trọn với một “lòng thương” đang nức nở.

                                                        TRẦN HÀ NAM