TIỂU SỬ TIẾN SĨ TRẦN ĐÌNH SƠN


Tiến sĩ Trần Đình Sơn, hiệu Tiên Châu, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1939 (14 tháng 7 năm Kỉ Mão) tại Bình Định – khai sinh trên giấy tờ ngày 1 – 9 -1941, là con thứ 12 (thứ Tam) của cử nhân Hán học, Thương tá tỉnh vụ Ninh Thuận Trần Đình Tân.
Thuở nhỏ học cấp 1 ở trường làng Cảnh Vân, cấp 2 học ở trường Trung học Võ Tánh (1957) học ở Nha Trang 1 năm (1958) ở Collège Francaise Tourane, vào Sài Gòn học trường Chu Văn An (1958 – 1959), thi tú Tài tại Huế. Đậu cử nhân Vật lí năm 1964.
Ông du học ở Pháp từ năm 1964, học Đại học Khoa học Paris, và thực tập ở Trung tâm nguyên tử Sarclay, đậu tiến sĩ đệ tam cấp năm 1967 (Thèse  3 ème) và đậu tiến sĩ quốc gia nguyên tử lực (Thèse d’Etát ) của Cộng hòa Pháp năm 1970. Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Hồng Điệp và sinh hạ được ba con gái Trần-đình Chu-tước – 1970 (Christiane), Trần-đình Kim-tước – 1972 (Patricia) và Trần-đình Nam-tước – 1974 (Aurélie).
Ông là một trong những nhà khoa học hàng đầu của Pháp trong lĩnh vực nghiên cứu nguyên tử hạt nhân ứng dụng cho y học, có nhiều sáng chế phát minh và tham gia nhiều hoạt động khoa học tầm quốc tế, được nhận bằng Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học NewYork. Ông là Trưởng phòng nghiên cứu hạt nhân của Viện Sarclay (Pháp). Sau khi nghỉ hưu ông tiếp tục được mời làm Cố vấn nghiên cứu nguyên tử lực của Viện Sarclay.
Sau một thời gian bệnh nặng, ông đã từ trần tại Pháp vào lúc 2 giờ sáng (giờ Paris) ngày 14 tháng 7 năm 2012, hưởng thọ 74 tuổi. Theo nguyện vọng của ông, gia đình sẽ đưa về an táng tại quê nhà, núi Thơm Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước, Bình Định.
Tuy sinh sống ở Pháp nhiều năm, nhưng tấm lòng của ông lúc nào cũng nặng tình với quê cha đất tổ. Năm 1977 lần đầu tiên ông trở về nước và làm việc với Viện Vật lý quốc gia, theo lời mời của giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Sau đó nhiều năm ông liên tục về Việt Nam làm việc với Viện Vật lý, Viện hóa học, các trường Đại học ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Bình Định, giảng dạy cho đội ngũ nghiên cứu, bác sĩ, tham gia hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ, thạc sĩ, đào tạo các nhà khoa học cho Việt Nam.
Đối với bà con dòng tộc, từ năm 1993, ông đã có sáng kiến vận động thành lập Quỹ học bổng của Trần tộc Đại tôn Từ đường, hỗ trợ biểu dương các con cháu họ Trần học giỏi vượt khó. Đến nay, Quỹ học bổng đã có sự tham gia đóng góp của nhiều bà con trong dòng tộc và là một điểm sáng trong phong trào khuyến học của Việt Nam và tỉnh Bình Định nói riêng. Ông thường xuyên răn dạy con cháu trong tộc họ giữ gìn tình nghĩa, yêu thương nhau, cùng nhau phát triển dòng tộc, làm rạng danh họ Trần ở Phước Thành.
Nguyện ước của ông lúc cuối đời sẽ được về quê hương, góp công sức xây dựng dòng tộc, dạy dỗ cho các lớp con cháu có thêm nhiều người giỏi giang thành đạt. Đáng quý thay tấm lòng của một người luôn hướng về cội nguồn.
Là người đậu đạt cao nhất của dòng tộc và của đời thứ 9 họ Trần ở Cảnh Vân, nhưng lúc nào ông cũng khiêm tốn hòa nhã, cởi mở chan hòa với các bậc tôn trưởng, anh chị em, bà con họ hàng. Cuộc sống giản dị thanh cao, luôn cần mẫn đóng góp trí tuệ và tâm lực cho đất nước quê hương. Đáng khâm phục biết bao!
Ông là niềm tự hào của Trần tộc Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước, của quê hương Bình Định và của đất nước Việt Nam.
THÔNG TIN VỀ LỄ VIẾNG VÀ AN TÁNG TIẾN SĨ QUỐC GIA KHOA HỌC (CH PHÁP) TRẦN ĐÌNH SƠN TẠI QUÊ NHÀ:
16h15 phút ngày 28/7/2012 đưa di hài về phi trường Tân Sơn Nhất, lưu tại phòng lạnh Bệnh viện Thống Nhất, TP. Hồ Chí Minh một đêm.
Sáng 28/7/2012 chuyển về phi trường Phù Cát, đưa về tại nhà ở Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước, Bình Định. An táng vào chiều 28/7/2012 tại nghĩa trang Núi Thơm, làng Cảnh Vân.

Tiến sĩ TRẦN ĐÌNH SƠN


NGUYỆT SAN

TS. TRẦN ĐÌNH SƠN:
“Về Việt Nam giảng dạy là niềm vui lớn nhất của tôi”
19:57′, 29/1/ 2008 (GMT+7)

TS. Trần Đình Sơn (hiện Cố vấn khoa học Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Saclay – Pháp), là một nhà khoa học người Bình Định. Trước thềm năm mới, PV. Báo Bình Định đã có cuộc phỏng vấn ông, về những kỷ niệm và những suy nghĩ tâm huyết của ông với quê hương.

TS Trần Đình Sơn (giữa) cùng các đồng nghiệp ở Pháp. Ảnh: T.X

* Ký ức tuổi thơ

* Ông là người sinh ra và lớn lên ở Bình Định. Vậy khi nhớ về quê hương và tuổi thơ, ông nhớ nhất điều gì?

– Có lẽ, cũng như phần đông mọi người, tuổi thơ là tuổi vô tư, nên thường có nhiều kỷ niệm đẹp, ghi sâu vào tâm trí. Hè năm 1953, sau khi học hết lớp bảy, anh tôi và tôi không được tiếp tục theo đuổi đường học vấn, phải về quê sống với ruộng vườn. Anh tôi, mới 16 tuổi, nhưng giỏi cày bừa không kém nông dân “thứ thiệt”. Còn tôi, vì còn nhỏ, nên có phận sự chăm sóc đàn bò. Tôi lo cho chúng đến mức, nhiều khi tôi có cảm tưởng thương chúng hơn cả bản thân mình. Chiều tối, ba tôi kéo “cần vọt” lấy nước, hai anh em tôi xách nước tưới rau và cây trái trong vườn. Đời sống khi đó cơ cực và thiếu thốn, nhưng mọi người ai cũng thương yêu nhau, nên đối với tôi, đó là khoảng thời gian đẹp nhất đời mình.

Năm 1955, thầy má chúng tôi bán bò, dời nhà xuống Quy Nhơn để chúng tôi được tiếp tục đi học. Một hôm về thăm quê, tình cờ thấy mấy con bò của mình đang đi ngoài đường, bỗng nhiên chạy qua cổng rồi chui vào chuồng cũ, dù người chủ mới hết sức ngăn cản, tôi rơm rớm nước mắt. Thì ra, không chỉ tôi nhớ đến chúng, mà chúng cũng vẫn còn nhớ đến tôi!

TS. Trần Đình Sơn là con trai cụ Trần Đình Tân (tự Lữ Tiên, hiệu Hà Trì). Cụ Trần Đình Tân sinh năm 1893 tại thôn Cảnh An, xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, đậu Cử nhân năm 1915, làm đến chức Thương tá Tỉnh vụ Ninh Thuận thì về hưu năm 1945. Trong kháng chiến chống Pháp, cụ giữ chức Hội trưởng Liên Việt huyện Tuy Phước, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Tuy Phước. Năm 1956 làm Chánh Văn chỉ Tuy Phước, rồi Hội trưởng Hội Khổng học tỉnh Bình Định. Cụ mất năm 1979. Tác phẩm của cụ còn để lại rất nhiều, gồm thơ, văn, đối, liễn, sách thuốc… chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ. Đặc biệt, trong tập Danh nhân kiệt tác tạp biên, có chép thư của Ủy ban Kháng chiến Chính phủ Việt Nam gửi quốc dân đồng bào năm 1947, của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Đây là một bản sao quý về bức thư này còn giữ đến nay.

* Nhớ về người cha, ông nhớ nhất điều gì?

TS. Trần Đình Sơn sinh năm 1941, tại Tuy Phước; tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Vật lý (1964); TS. Đệ tam cấp về Hóa phóng xạ (1967), TS. Khoa học Lý Hóa (1970). Từ năm 1970 đến nay, ông nghiên cứu về Cộng hưởng từ hạt nhân và đã thành lập 4 phòng thí nghiệm; trong đó, có một phòng chuyên về phổ và hình cộng hưởng từ áp dụng vào y học và đã xuất bản hai tập sách về Phổ cộng hưởng từ hạt nhân. Hiện ông là Cố vấn khoa học Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Saclay.

– Trong kháng chiến chống Pháp, ba tôi bị bệnh đục thủy tinh thể, nên đôi mắt mờ dần. Dầu vậy, tinh thần ông vẫn rất sáng suốt. Ông hướng dẫn chúng tôi làm tất cả các việc đồng áng. Trước đó, tuy đi làm việc xa nhà bao nhiêu năm, nhưng ông vẫn còn nhớ rõ vị trí và đặc tính từng khoảnh ruộng. Ông thường làm thơ, những lúc nhàn rỗi, trên đường đi tản cư hay lúc chờ ở hầm trú ẩn, để khích lệ, khuyên nhủ con cháu. Điều tôi thán phục nhất ở ông là lòng vị tha. Lúc còn đi làm, ông vẫn nuôi và giúp con cháu trong họ đi học. Lúc về làng, ông sưu tầm những phương thuốc hiệu nghiệm, để ghi vào bộ sách thuốc đang soạn. Trong nhà tôi, bao giờ cũng sẵn thuốc để giúp bà con khi cần. Dù nửa đêm hay mờ sáng, ông vẫn vui vẻ cho thuốc và tận tâm chỉ cách điều trị cho người bệnh. Trong thời kỳ kháng chiến, rất nhiều người trong xóm đã nhờ ông chữa bệnh và ông luôn chữa miễn phí cho bất cứ ai.

* “Cố gắng, quyết tâm và bền chí”

* Những ký ức tuổi thơ ấy cùng hình bóng quê nhà có giúp gì ông trên con đường làm khoa học ở xứ người?

– Sau hiệp định Genève, những bậc đàn anh còn trẻ và có học thức đều tập kết ra Bắc. Chúng tôi, dù muốn dù không, cũng trở thành “đàn anh” trong làng. Những năm tháng đó đã hun đúc ước mơ của tôi là gắng đi xa trên đường học vấn, để một ngày nào đó, trở về đào tạo lớp đàn em, theo kịp trình độ khoa học của các nước tiên tiến…

* Ông từng về Việt Nam giảng dạy về vật lý cộng hưởng từ (1979, 2003) và báo cáo khoa học (1985). Hẳn những việc làm đó cũng xuất phát từ thôi thúc trên?

– Hè năm 1964, sau khi tốt nghiệp Cử nhân Khoa học ở Đại học Sài Gòn tôi được cấp học bổng sang Pháp để soạn luận án Tiến sĩ khoa học. Tôi ra nước ngoài học, cũng với mục đích là trở về góp phần dựng xây đất nước. Cho đến nay, dù có đủ khả năng, nhưng tôi vẫn sống đạm bạc trong một gian nhà nhỏ, lúc nào cũng mong được về sống ở Việt Nam. Sau năm 1975, tôi là một trong những người đầu tiên về thăm Việt Nam năm 1977 với giấy thông hành của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lúc đó, tôi chưa nhập quốc tịch Pháp).

TS Trần Đình Sơn (thứ hai từ phải qua) trong lần thuyết trình tại Bệnh viện Nhân dân 115 (TP Hồ Chí Minh). Ảnh: T.X

Năm 1979, một giáo sư Trường Bách khoa Pháp và tôi, được GS.VS Nguyễn Văn Hiệu (lúc đó là Viện trưởng Viện Vật lý), mời tổ chức khóa học đầu tiên tại Việt Nam về Cộng hưởng từ hạt nhân. Năm 1985, tôi đem cả gia đình về thăm Việt Nam và nhân tiện tổ chức nhiều buổi thuyết trình tại Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh và vài thành phố khác ở miền Trung về các phương pháp chụp hình bằng cộng hưởng từ hạt nhân áp dụng vào y học. Khi ấy, đây là một phương pháp rất hiện đại, chỉ có vài nước phát triển trên thế giới mới có máy này. Ngay ở Pháp cũng chỉ có một máy chụp duy nhất đặt ở Bệnh viện Kremlin – Bicêtre (Paris) do chúng tôi sử dụng. Trong những lần về thăm Việt Nam sau này, tôi được các đơn vị khác như Viện Hóa học (Hà Nội), Trung tâm Chẩn đoán Y khoa TP. Hồ Chí Minh và các bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh… mời thuyết trình. Về Việt Nam giảng dạy là niềm vui lớn nhất của tôi.

* Ông có kinh nghiệm gì trao đổi với các bạn trẻ Bình Định hôm nay cũng đang có ước mơ lập thân, lập nghiệp?

– Theo tôi, điều kiện quan trọng để tiến đến thành công là cố gắng, quyết tâm và bền chí.

* Giả dụ có những sinh viên hay bạn trẻ Bình Định muốn được ông tư vấn hay hướng dẫn về khoa học, về hướng đi, ông có vui lòng nhận lời?

– Thật tình mà nói, không hiểu tại sao khi về hưu người ta lại bận hơn lúc còn tại chức. Hiện tôi đang cố gắng viết thêm bộ sách về cộng hưởng từ dùng trong y học, nhưng công việc tiến triển không nhanh như ý muốn. Ngay trả lời email, tôi cũng không đủ thời gian, nên chỉ trả lời những mail thật quan trọng. Tuy nhiên, nếu các bạn trẻ có nhu cầu, tôi sẽ tư vấn cho những sinh viên đã hay sắp tốt nghiệp đại học muốn đi sâu vào lĩnh vực khoa học.

* “Giữ một truyền thống gia đình”

TS. Trần Đình Sơn cũng là người nhiệt tâm với phong trào khuyến học địa phương. Theo cụ Trần Bùi Nghê, quản tộc họ Trần ở xã Phước Thành (một dòng họ có những cách khuyến học hiệu quả và có số con cháu học hành đỗ đạt khá đông), hằng năm, TS. Trần Đình Sơn đều gửi tiền về đóng góp vào quỹ khuyến học dòng họ.

* Lý do nào khiến ông hằng năm vẫn gửi tiền về đóng góp vào quỹ khuyến học của dòng họ ?

– Điều này đã thành truyền thống gia đình. Ngày xưa, ba tôi đã giúp con cháu trong họ đi học, ngày nay, tôi muốn duy trì nghĩa cử cao đẹp đó để con cháu của chúng tôi noi theo.

* Nhân năm mới, ông nói gì về mong ước của ông cũng như những nhà khoa học Việt kiều, hiện nay?

– Hiện nay, ở nước ngoài, có rất nhiều Việt kiều là chuyên gia ở nhiều ngành, lĩnh vực. Tuy hiện giờ, họ đã về hưu, nhưng phần lớn vẫn còn rất năng động, có thiện chí mong được về giúp quê hương. Hy vọng rằng, thời gian tới, nhà chức trách sẽ có thêm nhiều chính sách, khuyến khích họ trở về phục vụ quê hương, cũng như tạo điều kiện để họ về sinh hoạt lâu dài tại Việt Nam.

* Xin cảm ơn TS.

  • Lê Viết Thọ (Thực hiện)

Lỗ hổng Ozone có gây nguy hại cho con người không?


Dr. TRAN-DINH Son (Pháp)

Theo Báo “Associated Press” đăng ngày 16 tháng 9 năm 2009, chính quyền Obama vừa tuyên bố : “Từ nay Mỹ, Gia Nã Đại và Mễ Tây Cơ sẽ chủ trương biến đổi “Nghị quyết Montreal” (Protocole de Montréal) về việc bảo vệ lớp ozone thành một công cụ làm giảm các chất hydrofluoro-carbones (HFC). Các hóa chất này là những khí gây ra “hiệu ứng nhà kính” rất mạnh. Trong “Nghị quyết Montreal” với mục đích chống lại “lỗ hổng trong lớp ozone” và có hiệu lực kể từ năm 1989, các nước tham dự đã khuyến khích việc dùng HFC để thay thế CFC (chlorofluoro carbones) trong các máy lạnh, máy điều hòa không khí. Bởi vì chính các khí này (CFC) đã gây ra lỗ hổng ozone nên hiện nay không còn dùng nữa.
Các khí HFC tuy không phá hủy lớp ozone nhiều bằng CFC, nhưng chúng lại làm tăng hiệu ứng nhà kính : năng suất sưởi ấm toàn bộ của HFC lớn gấp 10.000 lần năng suất của khí carbonic (CO2). Mặc dù thành phần của các khí HFC chỉ vào khoảng 2% trong tất cả các khí sưởi ấm bầu không khí, nhưng vì kể từ đây chúng sẽ được thông dụng nên đến nửa thế kỷ thứ 21 thành phần của chúng có thể sẽ tăng lên đến một phần ba. Vì lẽ đó mà chính quyền Obama cho rằng việc dùng HFC để thay thế CFC là một quyết định vô trách nhiệm.
Báo “Le Monde” đăng ngày 16-09-09 tỏ vẻ lo ngại vì còn chưa đầy ba tháng là đến hội nghị thượng đỉnh về hiện tượng sưởi ấm khí hậu ở Copenhague, sự thương nghị như vậy sẽ bị đình trệ. Tờ Gardian, đăng ngày 15-09-09 còn bi quan hơn, phỏng định rằng cuộc đàm phán sẽ bế tắc do sự bất đồng ý kiến giữa Mỹ và Âu châu.
Nhưng bây giờ chúng ta hãy gác lại một bên vấn đề sưởi ấm khí hậu và tập trung vào việc tìm nguyên nhân của lỗ hổng ozone. Câu chuyện này bắt đầu vào những năm 1980, các quan sát viên về khí tượng nhận thấy rằng mỗi năm sau mùa đông, lớp ozone ở trên thượng tần khí quyển của vùng Antarctique bị phá hủy rất nhiều. Trong suốt ba tháng mùa đông, vào khoảng 50% toàn bộ lượng ozone ở miền Nam cực biến mất và sự tổn thất về ozone có khi lên đến 90% nên được mệnh danh là lỗ hổng ozone. Lỗ hổng này được Joseph Farman, Brian Gardiner et Jonathan Shanklin thuộc nhóm “Quan sát vùng Antarctic của anh quốc” khám phá năm 1985.
Theo các chuyên gia (phần đông là các chuyên viên nghiên cứu về khí quyển, về lớp ozone hay thuộc các viện nghiên cứu về thời tiết của một số quốc gia) thì sự phá hủy lớp ozone là do các nguyên tử chlore hay brome của các halogéno-carbone như các chlorofluorocarbone (CFC). Nhưng điều rất ngạc nhiên là các halogéno-carbone này là những hóa chất rất bền (có đời sống trung bình vào khoảng một trăm năm), không làm hư hại môi trường và thường được dùng làm thuốc mê hay trong các máy làm lạnh, máy điều hòa không khí, trong các bình xịt hơi, hay để chửa lửa v.v.. Các chuyên gia nói trên cho rằng các phân tử CFC khi lên đến lớp thượng tần khí quyển (có độ cao từ 10 đến 40 km), sẽ bị phân hủy bởi các tia tử ngoại “có năng lượng rất lớn” để cho ra những nguyên tử chlore. Những nguyên tử này có thể phá hủy các phân tử ozone rồi chúng sẽ được điều chế trở lại nhờ những phản ứng khác tiếp theo. Thành thử một phân tử chlore có thể phá hủy đến 100.000 phân tử ozone. Lối giải thích này đã làm cho cả thế giới lo ngại và có lẽ vì vậy mà vỏn vẹn chỉ có hai năm, sau ngày khám phá ra lỗ hổng ozone ở Antarctic, thì “Nghị Quyết Montreal” ra đời (1987). Tuy nhiên tôi nghĩ rằng những lý do mà các chuyên gia đưa ra để giải thích lỗ hổng trong lớp ozone hoàn toàn không hợp lý và không đúng sự thật.
Sau đây là vài khái niệm về quang hóa học: Trong hiện tượng quang phân là hiện tượng phân hủy các hóa chất bằng ánh sáng, các tia tử ngoại (tia UV) có năng lượng cao có thể bẻ gãy một liên kết có năng lượng thấp của các phân tử để cho ra các “gốc tự do” (radical libre hay free radical). Sau đó các “gốc tự do” này sẽ kết hợp lại với nhau hay tác động trên các các phân tử khác để tạo ra những phân tử hay những “gốc tự do” mới. Thí dụ, khi một tia tử ngoại (tia UV) do mặt trời phát ra đến trái đất và gặp một phân tử oxygen (O2) ở thượng tần khí quyển, nó sẽ bẻ gãy liên kết của O2 để cho ra 2 “gốc tự do” tức là nguyên tử oxygen (O2 → O + O). Hai nguyên tử này có khả năng phản ứng rất mạnh nên không thể ở lâu trong trạng thái tự do. Chúng sẽ kết hợp với nhau để hoàn lại phân tử oxygen (O + O → O2) hay phản ứng với phân tử oxygen để cho ra ozone (O + O2 → O3) (phản ứng này giải thích tại sao có ozone ở trong lớp thượng tần khí quyển). Khi nồng độ của ozone khá lớn, ozone sẽ bị tia UV phân hủy để cho ra một nguyên tử và một phân tử oxygen (O3 → O + O2).
Trong phòng thí nghiệm, phản ứng quang phân của oxygen có thể thực hiện bằng cách dùng một bóng đèn đựng khí iode (phát ra tia tử ngoại có làn sóng bằng 253,7 nm). Ta chỉ cần thắp một bóng đèn iode trong vài phút là ngửi thấy mùi hôi khó chịu của ozone. Các động cơ nổ của xe hơi, các máy điện trong kỷ nghệ phát ra nhiều tia chớp có chứa tia tử ngoại nên cũng tạo ra ozone. Các phản ứng quang phân xảy ra rất nhanh chóng trong khoảng một vài phần triệu giây và thời gian sống của các “gốc tự do” cũng rất ngắn, từ vài phần triệu giây đến vài phần mười giây.
Tóm lại, oxygen bị tia tử ngoại quang phân cho ra ozone và ozone bị quang phân thì hoàn lại oxygen. Nhờ vậy mà lượng oxygen trong bầu không khí gần như không thay đổi và không phụ thuộc vào thời gian chiếu của mặt trời, dù là hàng tỷ năm. Và khi nào có tia tử ngoại (của mặt trời) và còn oxygen là có ozone. Một mặt khác, mặc dù nồng độ của oxygen giảm xuống khi lên cao độ nhưng lượng oxygen ở thượng tần khí quyển củng đủ để hấp thụ phần lớn các tia UV từ mặt trời chiếu đến. Sự hấp thụ tia tử ngoại của oxygen lại còn hiệu quả hơn khi xuống gần mặt đất. Cho nên, sự hiện diện của ozone chỉ làm tăng sự phòng thủ của oxygen đối với tia tử ngoại : không có ozone, oxygen lâu ngày sẽ bị phá hủy vĩnh viễn bởi tia UV của mặt trời; nhưng không có oxygen thì lượng ozone nhỏ bé ở trên thượng tần khí quyển sẽ bị tiêu hủy trong khoảnh khắc. Vì vậy, sự khẳng định cho rằng lớp ozone đã che chở chúng ta khỏi bị tia tử ngoại làm hại là không đúng một cách hoàn toàn.
Một vài khái niệm về bầu khí quyển : Trong suốt mùa đông (tức là mùa hè ở bắc bán cầu), miền nam-cực của trái đất không nhận ánh sáng mặt trời. Việc chế tạo ozone bị gián đoạn. Do đó lớp ozone được tạo ra trước đây thu nhỏ lại, di chuyển đến vùng khác và luôn luôn thay đổi hình thể cũng như giống các đám mây trôi lơ lửng trên trời. Một lỗ hỗng trong lớp ozone ít nhiều rộng hẹp hiện ra vào mỗi mùa đông ở miền cực đạo. Nhưng hiện tượng này đã có như vậy từ hàng tỷ năm, mặc dù -theo như tôi biết- chưa ai để ý đến trước năm 1985. Tuy nhiên, lỗ hổng ozone này hoàn toàn vô hại vì là trong mùa đông, không có mặt trời để phát ra tia UV. Khi mùa xuân bắt đầu trở về miền cực đới, mặt trời hãy còn thấp ở chân trời. Các tia tử ngoại, trước khi chiếu đến mặt đất ở nam cực, phải xuyên qua lớp khí quyển của các vùng có vĩ tuyến nhỏ hơn (gần đường xích đạo) nên phần lớn bị oxygen ở các vùng này hấp thụ. Vì lẽ đó, lỗ hổng ozone ở miền Antarctic không thể được lấp đầy một cách nhanh chóng. Đó là lý do giải thích tại sao lỗ hổng ozone vẫn còn tồn tại sau mùa đông. Nhưng rồi mùa hè từ từ đến, mặt trời càng ngày càng lên cao trên bầu trời, ngày càng dài thêm, cường độ của luồng UV mỗi ngày mỗi mạnh và lỗ hổng ozone sẽ hoàn thành trở lại như xưa.
Ngày 18-8-2006, Tổ Chức Thời Tiết Quốc Tế (l’Organisation Météorologique Mondiale (OMM) và Chương Trình Liên hiệp Quốc về Môi Trường (Programme des Nations Unies pour l’Environnement (PNUE) đã đăng bản tường trình về sự biến chuyển của lượng ozone trong khí quyển do 250 chuyên gia trên thế giới thành lập. Trong đó có ghi rõ là “…trừ miền cực đạo ra, sự suy giảm của lượng ozone ở thượng tần khí quyển không còn nữa”. Hay “Năm 2002, lớp thượng tần khí quyển đuợc sưởi ấm một cách khác thường nên không còn thấy hiện tượng phá hủy ozone”. Hay “Trái lại ở miền Antarctic, từ 2004 đến 2005, một mùa đông băng giá đã làm cho lượng ozone xuống thấp”. Gần đây (16-09-2009), nhân “Ngày quốc tế nhằm phòng vệ lớp ozone” (Journée Internationale de la préservation de la couche d’ozone), hội Khí Tượng và Khoa Học Khí Quyển (l’Association Internationale de Météorologie et des Sciences Atmosphériques, IAMAS) đã thông báo rằng lượng ozone toàn bộ không thay đổi mà còn có thể tăng lên, đặc biệt là ở các vùng có vĩ tuyến trung bình.
Như vậy sự thăng giảm bề ngoài về sự phá hủy lớp ozone ở miền Nam cực vào mùa đông trước tiên là liên hệ với sự thay đổi của ánh nắng mặt trời.
Vai trò của CFC hay của HFC : Một câu hỏi được đặt ra là các hóa chất hologeno-carbone có gây thêm ảnh hưởng nào không ? Tôi nghĩ rằng không vì nhiều lý do :
– Các phân tử CFC và HFC nặng hơn oxygen và nitrogen rất nhiều nên khó có thể bay lên đến thượng tần khí quyển với một nồng độ tạm đủ để thi đua với oxygen và ozone trong việc thu hút các tia tử ngoại.
– Không ai hiểu tại sao các phân tử này (CFC và HFC) lại có thể bị quang phân bởi các tia UV khi không có mặt trời ?
– Người ta cũng không hiểu tại sao các phân tử nặng và bền như CFC và HFC lại không bị quang phân ở thượng tần khí quyển, ngay trên đầu chúng ta, để tạo ra một lỗ hổng ozone tương tự mà phải du hành xa xôi đến miền Nam cực, nhưng lại không đến miền Bắc cực ?
– Cuối cùng, các kết quả đo lường không có vẻ chứng tỏ rằng khi mùa hè trở lại, lượng ozone năm nay lại ít hơn các năm trước.
Nói tóm lại, sự khẳng định cho rằng lớp ozone đã che chở chúng ta tránh khỏi các tia tử ngoại là không đúng một cách hoàn toàn. Trong việc hấp thụ các tia UV, chính oxygen mới thật sự đóng vai trò chủ yếu. Lỗ hổng ozone hiện ra vào mùa đông chỉ là một hiện tượng thiên nhiên, xảy ra mỗi năm một lần, từ hàng tỷ năm nay. Lỗ hổng này không gây một nguy hại nào cho con người bởi vì lúc đó không có mặt trời ở miền cực đạo. Giả thuyết cho rằng việc phá hủy lớp ozone ở miền Nam cực là do các nguyên tử chlore của chlorofluorocarbone (CFC) hay của các hóa chất tương tự có lẽ là một sai lầm lớn và hoàn toàn phi lý. Do đó việc thay thế CFC bằng HFC không những không cần thiết mà còn gây hại bởi vì các HFC vẫn nổi tiếng là những chất có năng suất sưởi ấm bầu khí quyển lớn gấp 10.000 lần khí carbonic. Cho nên nếu sự suy luận trình bày ở trên không sai lệch thì sự thay thế CFC bằng HFC có lẽ nhằm phục vụ quyền lợi kinh tế và tài chánh cho một số công ty và kỷ nghệ gia, bởi vì bằng sáng chế của họ về các chất này đã (hoặc sắp) đến ngày hết hạn.
Viết tại Saclay ngày 5 octobre 2009
Dr TRAN-DINH Son
Cố vấn khoa học của Nguyên tử lực cuộc Pháp

Adresse e-mail : trandinhs@yahoo.com
(Xin mời đọc toàn văn tiếng Pháp và tiếng Anh do tác giả Trần Đình Sơn tự dịch trên trang https://tranhanam.wordpress.com)