CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Cái Đẹp trong xiềng gông!?


Giảng dạy bao nhiêu năm bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tuôn ra không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp về đối lập Bóng tối – Ánh sáng, về hiện thân của cái Tài – cái Đẹp – cái Thiên lương, bị ám không ít bởi bài viết của thầy Nguyễn Đăng Mạnh hết lời ca ngợi con người vô úy… Thế nhưng, khi tự mình đọc lại tác phẩm, mới thấy một tình tiết đáng suy ngẫm, không dám phán bừa mà từ sự cẩn trọng cần thiết của cái gọi là “hoài nghi khoa học”, viết để cùng trao đổi với những người quan tâm.

Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ được  nhiều người tâm đắc. Bản thân tôi từng giảng say sưa về “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khi Huấn Cao – người tử tù – đang dồn hết tâm lực viết những dòng chữ cuối cùng trên “tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Đó là thời điểm để cho ba con người – ba đốm sáng nhỏ cô đơn hội tụ trong tình yêu cái Đẹp… Nét chữ của Huấn Cao là hiện thân của “hoài bão tung hoành một đời con người” để cho một người cả đời sống trong bóng tối và sự sợ hãi đã  được đón nhận trọn vẹn Cái Đẹp ấy trong khoảnh khắc thốt lên lời nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”…
Có nghĩa là theo chiều hướng phân tích xưa nay, tác phẩm là một đỉnh cao tư tưởng Nguyễn Tuân, hàm chứa quan niệm Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám về Cái Đẹp. Cụ Nguyễn được tán tụng nhiều, nên có lẽ khi nghe phản biện này không biết Cụ có về vặn cổ thằng lắm chuyện hậu sinh này không? Nhưng không nói ra thì ấm ức, mà cũng chưa thấy ai nói! Thôi thì có bị chửi là dốt, là ngạo mạn như Trần Đăng Khoa cũng đành!!!
Đoạn khiến cho kẻ hậu sinh này băn khoăn là khi nhà văn đặc tả Huấn Cao trong vai trò người nghệ sĩ sáng tạo cái Đẹp: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồngtiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…“.
Bây giờ đọc kĩ, ngẫm lại, thấy sao mà người-sáng-tạo-Cái-Đẹp bị đối xử một cách tàn tệ đến thế! Vì trước đó, viên quản ngục được biết đến như là người có “lòng biết giá người, biết trọng người ngay”, đã từng bị Huấn Cao xua đuổi mà chỉ biết im lặng lui ra với lời “Xin lĩnh ý”! Nhân vật này cũng từng tự biết mình khi so với Huấn Cao “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”! Ông ta cũng biết để có chữ của Huấn Cao cho thỏa sở nguyện thì không thể dùng quyền lực hay dụ dỗ mà có được nên rất khổ tâm…
Ấy vậy mà trong buổi tối cuối cùng, viên quan coi ngục kia lại để tâm hết vào nét cỉhữ Huấn Cao mà quên khuấy phải đối xử thật sự trọng thị với người cho chữ. Ông ta chỉ quan tâm đến nét chữ – “báu vật trên đời” mà để cho người nghệ sĩ sáng tạo vẫn phải “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”! Quả là một tình tiết vô lý, nếu như không muốn nói là vô đạo, trong hoàn cảnh chỉ có ba người: Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại trong căn buồng nhà ngục! Phải hiểu ra sao dụng ý của cụ Nguyễn Tuân đây?
Thử đưa ra vài cách cắt nghĩa:
– Cụ Nguyễn muốn “tô đậm nét độc đáo phi thường” nhấn mạnh bằng thủ pháp đối lập Cái Đẹp với Cái Xấu, Tội ác… nên sẵn sàng tạo một khung cảnh đối lập con người – hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn, bất chấp thực tế!
– Cụ Nguyễn muốn nói lên tình trạng sáng tác của người nghệ sĩ trong chế độ thực dân phong kiến, sáng tạo cái Đẹp trong gông xiềng, nhưng không muốn cái Đẹp tồn tại trong nhà ngục (như lời Huấn Cao nói ở phần sau: “Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”).
Nếu lí giải theo cách đó, có lẽ sẽ đẹp lòng những ai muốn đề cao Huấn Cao, đề cao Cái Đẹp! Nhưng nếu như vậy thì ta phải đánh giá ra sao đây về nhân vật quản ngục?
Ông ta là người đứng đầu bộ máy đàn áp, là kẻ có thừa mánh khóe và luôn cẩn trọng trong công việc mẫn cán của một viên quan coi ngục. Thử xem ban đầu ông ta sợ hãi tái mặt như thế nào khi nghe lời nói buột miệng của thầy thơ lại: “Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn.”. Đối xử với tù, ông ta cũng cùng một giuộc với bọn lính cậy quyền uy. Bằng chứng thầy tớ hiểu nhau là khi “Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra” (nhưng hôm ấy lại là Huấn Cao – người sở hữu “báu vật” – nên ông ta đối xử khác ngày thường mà thôi!). Thủ đoạn của viên quan coi ngục này cao hơn nhiều, khi ngày ngày dâng rượu thịt cho Huấn Cao xơi (nhưng hậu quả là bị bẽ mặt khi dùng trò mua chuộc bị Huấn Cao lật mặt!). Cuối cùng, vì sự thèm khát có nét chữ Huấn Cao, viên quản ngục này đã bất chấp cả phép nước, cùng đồng phạm là thầy thơ lại táo gan xin chữ Huấn Cao trong nhà ngục – một hành động có thể mất đầu! Huấn Cao hoặc là ngây thơ, hoặc là không thèm chấp, hoặc là bao dung với quản ngục, vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục mà bỏ qua không thèm đếm xỉa gông trên cổ và xiềng dưới chân mình! Trớ trêu và bi hài thay cho người nghệ sĩ vào phút sáng tạo cuối cùng của mình đã giao báu vật cho một kẻ vô đạo, lại nói với hắn những lời như tri âm tri kỉ!
Nhiều người say sưa với ý tưởng đề cao quản ngục như là người biết yêu Cái Đẹp thật sự, thậm chi cho rằng hành động chắp tay cảm động thốt ra lời “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!” chẳng khác nào cái chắp tay của Chu Thần Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu chắp tay trước hoa mai). Giả sử không có cái chi tiết cụ Nguyễn Tuân đưa vào “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng…” thì kẻ viết bài này cũng tin như thế! Còn chi tiết này tồn tại trong tác phẩm thì xin phép tất cả những ai yêu mến đề cao viên quản ngục mà thốt lên rằng : viên quản ngục này là một thằng đểu thượng thừa!
Bởi nếu là một người đã thật sự vượt qua sự sợ hãi quyền uy và tội ác,  thật sự hết lòng vì Cái Đẹp, thì trước hết phải đối đãi với Huấn Cao như với một kẻ sĩ thật sự! Chua chát thay, một kẻ như vậy mà lại là “biết đọc vỡ nghĩa sách Thánh Hiền” sao? Tất nhiên trong hoàn cảnh ấy, không thể mời Huấn Cao về nhà mà khoản đãi rượu thịt, đốt trầm thắp bạch lạp cho Huấn Cao viết chữ, vì có thể làm cho tội vào thân mà chữ cũng mất! Nhưng nơi nhà ngục, ông ta có toàn quyền sinh sát, có thể tháo gông mở xiềng, sao ông ta không làm? Chỉ có thể kết luận: đến giờ phút ấy, ông ta vẫn là một ngục quan cẩn trọng, sợ phép nước, có biến cố gì thì có thể phủi tay chối tội! Còn được nét chữ Huấn Cao rồi, tiếc gì vài giọt nước mắt cá sấu mà không nhỏ ra cho đẹp tư thế người “biệt nhỡn liên tài”? Không thể nghĩ khác được: đây là kẻ có thủ đoạn đối nhân xử thế bậc thầy, không chỉ lừa được Huấn Cao, lừa thầy thơ lại mà lừa…cả bao người đọc dễ tính! Không biết cụ Nguyễn có định dựng chân dung một ngụy quân tử ở viên quản ngục không mà để cái chi tiết Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ”
Cụ Nguyễn viết về thú chơi thư pháp, ắt hẳn phải biết đầy đủ những nghi lễ thư pháp đích thực để có nét chữ thể hiện trọn vẹn thần thái khí phách người viết chữ! Hay cụ cũng muốn phút giây ấy Huấn Cao chơi ngông không thèm tháo gông mở xích? Liệu nét chữ ra đời trong khi cổ vướng gông, chân vướng xiềng có thể thỏa chí tung hoành không?
Một chi tiết như vậy tồn tại trong văn bản, nếu như cụ Nguyễn Tuân muốn đề cao quản ngục và Huấn Cao, thì tiếc thay, “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”!
TRẦN HÀ NAM

Mưa Xuân của Nguyễn Bính – những cảm nhận!


Đoạn 1: Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.

Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng tay lại giữa thoi xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!

Em xin phép mẹ vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.:
Nguyễn Bính (1918 – 1966)
Nguyễn Bính đã ghi dấu ấn của mình trên những trang thơ tài hoa thấm đẫm hồn quê, tình quê. Vẻ đẹp chân quê ấy, ngày nay như một của hiếm nên những vần thơ của Nguyễn Bính dường như lại càng có sức lay động, thức tỉnh người nhà quê trong chúng ta một cách mãnh liệt. Không gian ấy dệt nên những duyên tình đôi lứa, cho ta chứng kiến chất mộc mạc dân dã mà rất tinh tế nhẹ nhàng của những trai làng, thôn nữ. Những cô gái quê vào thơ ông thật đẹp:
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già…
Cô gái quê trong bài thơ Mưa Xuânđã thật sự làm ta nhớ nhung một vẻ đẹp chân quê làm nên hồn thơ Nguyễn Bính!
Trên nền không gian mưa xuân đặc trưng đất Bắc, Nguyễn Bính đã dệt nên một thế giới của những mộng ước thật trong trẻo và làm nao lòng bất cứ những ai chớm bước vào mùa xuân đẹp nhất của cuộc đời! Khi viết bài thơ, nhà thơ cũng đã đem vào tất cả cái trong trắng của chàng trai mười tám tuổi, giàu mơ mộng và rất đa tình, để khắc hoạ những rung động trước vẻ đẹp của “lòng trẻ còn như cây lụa trắng”…
Khung cảnh mở đầu của bài thơ cũng mang theo những nét quen thuộc của làng quê với nghề canh cửi, phảng phất hương vị dân gian, thật yên bình cái thuở: “trai hiền bạn với gái đồng trinh” (Hoa với rượu). Không gian như hoà điệu với lòng người trong cảnh sắc:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hai hình ảnh “mưa xuân” và “hoa xoan” như làm nên sự gắn kết rất hài hoà của mùa xuân đất Bắc. Tất cả hiện lên cảm giác nhẹ nhàng, cái “phơi phới” của mưa xuân như mang theo vẻ tươi tắn của đất trời, cái nao nức của lòng người trong mùa hội.
Nhà thơ dẫn dắt người đọc vào câu chuyện tâm tình của người con gái bên khung cửi, từ khoảnh khắc câu nói bâng quơ của mẹ:
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay
Đó là khoảnh khắc để cho hạt mưa xuân kia giăng mắc những tơ tình ngổn ngang lòng người thôn nữ! Thời gian như chứa đựng cái hồi hộp bâng khuâng của lần hò hẹn cùng người trai thôn Đoài đủ làm hai má em “bừng đỏ”. Nhà thơ đã khéo léo đặt hai từ “hình như” và “có lẽ” ở đầu hai dòng thơ để cắt nghĩa cho cái xao xuyến mong manh của lòng người. Thời gian đã chuyển từ ngoại cảnh vào tâm trạng, điểm nhịp theo từng hạt mưa bụi li ti “mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh”. Dường như người đọc có thể cảm nhận cái se lạnh của đất trời đã làm nên phút chờ đợi ẩn chứa bao hy vọng và tin tưởng:”Thế nào anh ấy chả sang xem”. Không có một hồn thơ nhạy cảm, có lẽ khó mà diễn đạt nổi cái đợi chờ của người thiếu nữ như Nguyễn Bính!

Quan niệm của Xuân Diệu trong VỘI VÀNG


    Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa  cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuâ ntới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì!
    Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.
    Bài thơ mở đầu bằng những ước muốn thật kì lạ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
    Con người ở giữa không gian của “nắng” và “hương” này thật lạ! Anh ta có những ước muốn và đòi hỏi thật vô lí, muốn vượt ra khỏi qui luật bình thường của tạo hoá. Nhưng qui luật thời gian vẫn lạnh lùng nghiệt ngã, nắng vẫn chầm chậm trôi về cuối ngày, gió vẫn lang thang hoài không nghỉ, báo hiệu cho tàn phai và phôi pha sắp sửa bắt đầu. Xuất phát từ điểm nhìn của một cái tôi chủ quan, chẳng qua Xuân Diệu chỉ muốn diễn giải đầy đủ hơn sự có lí của tâm hồn: giữ trọn vẹn hơn những vẻ đẹp cuộc đời, hưởng thụ tận cùng màu sắc và hương vị của sự sống.
Điều nhà thơ “muốn” trong một không gian ngập đầy nắng gió đã nói lên ý thức về thời gian trong tâm tưởng con người: nỗi lo sợ trước viễn cảnh chia li, như có lần Xuân Diệu đã từng chứng kiến:
Đương lúc hoàng hôn xuống
Là giờ viễn khách đi
Nước đượm màu li biệt
Trời vương hương biệt li
    (Viễn khách)
    Ý niệm về thời gian ấy còn là nỗi lo sợ cho tương lai “Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn” nên trái tim “giục giã” nhà thơ bày tỏ nỗi niềm tha thiết với mùa xuân.
    Mùa xuân đến, trong sự mong đợi của nhà thơ, cùng với hương và sắc, làm bừng lên sức sống của không gian:
    Của ong bướm này đây tuần tháng mật
    Này đây hoa của đồng nội xanh rì
    Này đây lá của cành tơ phơ phất
    Của yến anh này đây khúc tình si
    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
    Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa
    Chưa bao giờ, trong thi ca Việt Nam, mùa xuân lại hiện ra xôn xao như thế. Xuân không còn là bóng dáng mà đã hiện hình cụ thể đến từng chi tiết: vẻ đẹp ngọt ngào trong “tuần tháng mật” “của ong bướm”, rực rỡ trong “hoa của đồng nội xanh rì”, mơn mởn trong “lá của cành tơ phơ phất”, mê đắm trong “khúc tình si” “của yến anh” và ngây ngất niềm vui “gõ cửa” cho mọi tâm hồn bừng lên “ánh sáng”! Sức sống của mùa xuân làm vạn vật có linh hồn, quấn quít giao cảm đến độ cuồng nhiệt. Bằng những tiếng “này đây” vồ vập, linh hoạt giữa những hàng thơ, tạo nên điệp khúc, Xuân Diệu háo hức như muốn sờ tận tay, chạm mặt mùa xuân. Bước chuyển của mùa xuân nhờ vậy cũng rõ rệt hơn, bay lên cùng cái náo nức rộn rã, mê mải trong lòng tác giả, nồng nàn và tinh tế.
Tuyệt đỉnh của mê say là một niềm hạnh phúc:
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần
    Mùa xuân không còn riêng của đất trời vạn vật mà đã hoà vào hồn người. Mùa xuân đến với con người như một người yêu, góp hết sự sống của muôn loài lên “cặp môi gần” hiến dâng, đầy ham muốn của con người. Qua cách cảm của Xuân Diệu, cuối cùng cái đích của sự sống vẫn là con người, chuẩn mực của mọi vẻ đẹp cuộc sống vẫn là con người với tất cả khát khao về hạnh phúc. Hạnh phúc cùng mùa xuân, tận hưởng vị “ngon” của cả một không gian xuân, nhà thơ đã biểu lộ cảm xúc cực điểm của sự sung sướng. Niềm hạnh phúc trần thế ấy đồng nghĩa với sự sống!
    Mùa xuân đem đến cho chàng trai Xuân Diệu một niềm ham sống và men say của tình yêu. Nhưng nhịp hoan ca bỗng khựng lại giữa chừng trong một câu thơ tách ra hai thái cực:
    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
    Nhà thơ cắt nghĩa cái vội vàng ấy bằng những dự cảm của tâm hồn. Trước một niềm khoái lạc vô biên khiến con người như bồng bềnh chao đảo trong cảm giác ngất ngây, linh cảm về một cuộc chia li đã hiện hình rõ nét:
    Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
    Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
    Những cái “nghĩa là” ấy gắn liền với triết lí về sự sống đã có tự ngàn xưa, không phải là một ý` niệm mới mẻ. Cách Xuân Diệu một ngàn năm, trong thế giớ i của thơ Đường, ta đã gặp nỗi lòng của một Trần Tử Ngang trước vũ trụ bao la:
    Ai người trước đã qua
    Ai người sau chưa lại
    Ngẫm trời đất thật vô cùng
    Riêng lòng đau mà lệ chảy
    (Bản dịch Đăng U Châu đài ca)
Suy tư ấy có liên quan đến thân phận con người: cái hữu hạn của đời người – cái vô hạn của đất trời. Với Xuân Diệu, khi mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ, sự sống, tình yêu, gắn bó với cái tôi yêu đời của nhà thơ, thì chia li đồng nghĩa với cái chết.
    Trong khi đồng nhất hoá mùa xuân với con người, Xuân Diệu đã sống đến tận cùng cảm giác, yêu đến tận cùng mê say và gửi cả vào mùa xuân khát vọng của một tâm hồn muốn vươn tới cõi vô biên. Nhưng khi ý thức về thời gian đi liền với tàn phai và hủy diệt, nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bi kịch của con người phải chịu sự chi phối của qui luật khách quan. Đó cũng là nỗi niềm chung của con người khi chôn vùi tuổi trẻ trong một cuộc sống đã mất ý nghĩa. “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại – Mảnh tình san sẻ tí con con”, Hồ Xuân Hương đã chẳng từng than thở đó sao? Điều đặc biệt là Xuân Diệu không thu gọn cảm xúc trong nỗi niềm ngao ngán cho riêng bản thân. Thi nhân đã dành hẳn một niềm “bâng khuân”, “tiếc cả đất trời” để làm nên một cuộc chia li bi tráng với mùa xuân:
    Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
    Khắp sông núi đều than thầm tiễn biệt
    Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
    Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
    Chim vội vàng bỗng đứt tiếng reo thi
    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
    Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa?
    Những cuộc chia li nổi tiếng trong lịch sử văn chương cổ kim có lẽ cũng chỉ bùi ngùi đến vậy. Nước sông Dịch lạnh theo nỗi niềm thái tử Đan đưa tiễn Kinh Kha sang sông hành thích bạo chúa, người chinh phụ đưa chồng ra chiến trận “nhủ rồi nhủ lại cầm tay- bước đi một bước giây giây lại dừng” (Chinh phụ ngâm), tất cả đều cảm động lưu luyến nhưng đó là cảnh chia li giữa người với người. Tản Đà mượn lời “thề non nước”, “tống biệt”, “cảm thu, tiễn thu” cũng chỉ là mượn cảnh nói người, cảm xúc man mác lặng lẽ. Còn Xuân Diệu đã diễn tả đầy đủ đến từng chi tiết cụ thể không khí của cuộc chia li, từ  thời gian “tháng năm”, không gian “sông núi than” đến “cơn gió xinh hờn tủi”, chim “đứt tiếng”… Cảm quan lãng mạn cùng hoà với suy tư về bản thân đã khắc hoạ độc đáo cảm giác tinh tế của nhà thơ. Khung cảnh “rớm vị chia phôi” như  san sẻ nỗi niềm của thi nhân, bật thành tiếng than não nuột “chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa”, tiếc thương cho vẻ đẹp mùa xuân, tuổi trẻ, sự sống một đi không trở lại.
    Từ cảnh “trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” này. trước nỗi lo âu, linh cảm về sự tàn phai cùng dòng chảy thời gian, có một giao điểm hội tụ tình cảm và lí trí củanhà thơ, trở thành một niềm thôi thúc cháy bỏng:
    Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
    Đó là lời kêu gọi của tình yêu, của đam mê và khát khao vượt ra thực tại đáng buồn để tìm đến mùa xuân. Chính vào lúc tưởng như rợn ngợp trong sự hoang mang, nhà thơ đã vượt lên để thể hiện rõ chất Người cao đẹp – tìm về ý nghĩa của sự sống.
    Không quay về quá khứ để hoài niệm, không tìm kiếm một ngày mai vô vọng, con người ở đây sống cùng thực tại mãnh liệt, dường như cùng với các động tác vội vàng cuống quít kia là sự cuồng nhiệt với đời:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn  say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước và mây và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi hương cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
         Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Tưởng chừng những cái “ta muốn” là sự lặp lại cảm xúc đầu bài thơ. Nhưng đi liền với các cảm giác và hành động ôm, riết, say, thâu, hôn, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn, cảm xúc đã phát triển đầy đủ, trẻ trung trong trạng thái ngây ngất. Từ thái độ ban đầu còn có chút e dè đến thái độ vồ vập vội vàng, có chút tham lam là cả một sự chuyển hướng của suy tư. Xuân Diệu không chờ đợi mà muốn chiếm lĩnh sự sống, thâu vào đầy đủ vẻ đẹp cuộc sống, sống thành thật với chính mình, sống hết mình.
    Thái độ sống ấy đã được nhà thơ tuân thủ suốt cuộc đời mình và ông đã tìm ra ý nghĩa của sự sống trước ranh giới của mất mát, tàn phai và cái chết, chiến thắng nỗi sợ hãi hư vô. Khát khao được sống, được yêu, được giao cảm cùng vũ trụ và cuộc đời, Xuân Diệu đã chiến thắng thời gian, vẫn vẹn nguyên sức sống dồi dào của tuổi hai mươi:
    Trong hơi thở chót dâng trời đất
    Cũng vẫn si tình đến ngất ngư
        (Không đề – 1983)
    Bài thơ Vội vàng đã thể hiện tinh tế những giác quan bén nhạy của hồn thơ Xuân Diệu trước mùa xuân, gắn với quan niệm sống của ông về ý nghĩa sự sống đời người. Con Người,  với những tính cách và cảm xúc độc đáo hiện diện trong từng câu chữ, mang nét đặc trưng của cảm quan lãng mạn. Bài thơ còn đưa ra một quan niệm sống tích cực: phải biết tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời. Hiểu một cách đúng đắn quan niệm này có nghĩa là mỗi người cần phải sống hết mình với cuộc sống hôm nay, sôi nổi châ nthành và thiết tha với đời. Chính vẻ đẹp của con người sẽ làm nên vẻ đẹp bất tử cho cuộc đời. Lời nhắn nhủ trong Vội vàng cũng là tâm niệm suốt đời của nhà thơ, đã làm ta hiểu hơn về “tấm lòng trần gian” của một người thơ yêu đời mê đắm./.
                                                                                                    Trần Hà Nam

XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT – Lớp 11


Phan Bội Châu – tác phẩm tiêu biểu

Xuất dương lưu biệt

Sinh vi nam tử yếu hi kỳ
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si
Nguyện trục trường phong đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi

Bài thơ Xuất dương lưu biệt được sáng tác năm 1905, khi Phan Bội Châu từ biệt các bạn đồng chí lên đường tìm đường cứu nước.Tác phẩm là tiếng nói hăm hở của một trang nam nhi quyết tâm hoàn thành sự nghiệp phục quốc.
Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, theo truyền thống “thi dĩ ngôn chí” của thi ca phương Đông, đó cũng là dấu vết rõ nhất của con người từng theo đuổi sự nghiệp công danh, thập niên đăng hoả học chữ Thánh hiền của Phan Bội Châu. Giọng điệu, khí phách cho đến hình tượng thơ còn mang đậm dấu ấn của thi pháp trung đại nhưng về mặt tư tưởng đã đánh dấu một sự vượt thoát ra khỏi khuôn khổ suy nghĩ của một trí thức Hán học, đoạn tuyệt với tư tưởng Nho giáo về căn bản.
Có thể phân tích bài thơ theo cấu trúc : Tiền giải – Hậu giải quen thuộc của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường:
1. Tiền giải:
Dịch thơ: Làm trai phải lạ ở trên đời – Há để càn khôn tự chuyển dời – Trong khoảng trăm năm cần có tớ – Sau này muôn thuở há không ai (Tôn Quang Phiệt dịch).
Khi viết nên những dòng thơ này, Phan Bội Châu đã bước sang tuổi 38 – lứa tuổi đã qua bao thăng trầm, chuẩn bị chớm bước vào tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” – tự tin ở chính mình. Làm trai “tam thập nhi lập”, hẳn một người đã từng đậu Giải nguyên năm Canh Tý (1900) như Phan Bội Châu không phải vướng bận băn khoăn về ý nghĩa làm trai như Giải nguyên Nguyễn Công Trứ thuở xưa, mặc dù cách nói cũng cùng một kiểu: “Thông minh nhất nam tử – Yếu vi thiên hạ kỳ” (Chí nam nhi). Ông Giải San lúc ấy thừa điều kiện để đi theo con đường tiền nhân Uy Viễn tướng công, nhưng cuối cùng con đường của Phan Bội Châu lại theo một ngã rẽ khác hẳn. Chữ “kỳ” của Nguyễn Công Trứ bó hẹp trong “bút trận” – thi cử đỗ đạt làm quan, phụng sự vô điều kiện cho triều đình phong kiến. Phan Bội Châu ít nhiều chịu ảnh hưởng của quan niệm làm trai thời phong kiến nhưng trong cách nói vẫn khẳng định một cách đầy tự hào về ý thức cá nhân mạnh mẽ của mình.
Một nguời đã từng ý thức với câu thơ tâm đắc “Lập thân tối hạ thị văn chương” (Viên Mai) hẳn không chấp nhận bó mình theo quan niệm phong kiến! Bởi vậy, trong phần tiền giải này, khi nhấn mạnh vào vai trò nam tử, Phan Sào Nam chẳng qua chỉ mượn một quan niệm có sẵn nhằm khẳng định cho cái bản ngã đội trời đạp đất hào hùng của chính mình thôi, không hề có một dấu ấn của con người bổn phận theo lý tưởng làm trai phong kiến.
2. Phần hậu giải:
Dịch thơ: Non sông đã chết, sống thêm nhục – Hiền thánh còn đâu học cũng hoài – Muốn vượt biển Đông theo cánh gió – Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
Điều cốt tủy trong suy nghĩ, tình cảm của nhà thơ gửi cả vào phần hậu giải này, là bức thông điệp mà Phan Bội Châu gửi gắm lại bạn bè trước giờ lưu biệt. Đúng ra, với đề tài “lưu biệt”, trong thơ xưa vốn dĩ hay nói về cảm xúc bịn rịn lưu luyến hay nỗi hận sầu của người trai “chí chưa thành, danh chưa đạt”. Vậy mà Phan Bội Châu đã dành hai câu luận để nói về thời thế một cách sâu sắc: ông đạt sự sống chết, vinh – nhục của một đời trai trong mối liên hệ với vận nước, bằng tất cả nỗi đớn đau của người dân mất nước. Câu thơ thật thấm thía! Nguyên văn câu thơ chữ Hán nói về hiền thánh không hề có một chút e dè khi ông phê phán gay gắt cả một nền học cũ đã lỗi thời bằng thái độ đoạn tuyệt dứt khoát. Nước mất – dân ngu, đó chính là lời kết tội của Phan Bội Châu với cả chế độ phong kiến và giáo lý Khổng – Mạnh đã mục ruỗng. Chính sự bảo thủ ấy đã tiếp tay cho kẻ thù đặt ách thống trị lên đất nước. Khác với một Nguyễn Công Trứ bi quan yếm thế khi nếm trải “Vào trường danh lợi vinh liền nhục” để rồi ao ước “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”; khác với một Tú Xương từng nguyền rủa chế độ thi cử và kẻ sĩ cùng thời “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo – Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi” mà vẫn lận đận lều chõng mong được chen chân vào rồi cay cú “Tám khoa không khỏi phạm trường qui”; Phan Bội Châu đã xác định con đường khác hẳn. Hai câu kết hào hùng hiện rõ tư thế bậc đại trượng phu dám phá bung cả khuôn khổ lề thói cũ, đem đến một quan niệm làm trai mới mẻ:
Nguyện trục trường phong đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi

Con người nhà thơ hiện ra giữa không gian vũ trụ mới hào hùng, phóng khoáng làm sao! Cái hào sảng của trường phong – trận gió dài, cơn gió mạnh, cái mênh mông của đông hải – gắn với chí lớn con người muốn tát cạn biển đông đã dồn nén vào một chữ “khứ” – gắn với hành trình ra đi ngùn ngụt hùng tâm tráng chí. Vang vọng trong câu thơ hào khí của bậc nữ lưu Triệu Trinh Nương thuở nào: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, chém cá kình ở biển Đông, chứ không cúi đầu làm thê thiếp kẻ khác”. Tâm nguyện cứu nước dù gần hai ngàn năm trước hay thời Phan Bội Châu cũng giống nhau ở ý chí không chịu cúi đầu làm nô lệ một cách nhục nhã. Phan Sào Nam đã bộc lộ ý chí cứu nước qua hình tượng thật đẹp kết lại bài thơ: Ngàn con sóng bạc nhất tề cùng bay lên, cả đất trời như đã hoà theo quyết tâm cứu nước của người anh hùng. Con đường của Phan Bội Châu là con đường hành động, thái độ của Phan Bội Châu là thái độ không cam chịu chờ thời. Không một chút do dự băn khoăn, bài thơ là dự báo về những việc kinh thiên động địa trong tương lai của người anh hùng khiến cho thực dân Pháp và bọn bán nước phải run sợ kinh hoàng.
Khép lại Xuất dương lưu biệt, người đọc nhận ra một khí phách, một nhân cách của một nhân vật lỗi lạc đầu thế kỷ XX. Bài thơ thổi một luồng sinh khí vào văn chương thời đại, mở ra những trang đầy hào khí của văn thơ yêu nước đầu thế kỷ, tiếp nối tinh thần bất khuất của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập của thế kỷ trước, có giá trị động viên bao thế hệ yêu nước nối tiếp người chiến sĩ Phan Bội Châu.