Suy nghĩ về tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân


1. Tổng quan về nghiên cứu Nguyễn Diêu và kịch bản tuồng
            Cụ Tú Nhơn Ân là cách gọi tôn kính dành cho cụ Nguyễn Diêu, hiệu Quỳnh Phủ, quê quán Nhơn Ân, Phước Thuận, Tuy Phước. Theo tài liệu của tác giả Thúy Vi đăng trên Báo Bình Định ngày 15.4.2003 thì cụ sinh vào ngày 21/7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1822), mất ngày 19-3 năm Tự Đức thứ 33 (1880). Cụ là soạn giả tuồng hát bội nổi tiếng, là thầy dạy học và nghiệp sư hát bội của hậu tổ hát bội Đào Tấn (1845 – 1907). Tuồng hát bội Bình Định nửa cuối thế kỉ XIX gắn liền với tên tuổi của hai thầy trò cụ Tú Nhơn Ân. Trong đó, các vở diễn của Quỳnh Phủ tiên sinh vẫn được lưu diễn đến tận ngày nay là Ngũ Hổ Bình Tây (Liêu), Liệu đố (Chữa bệnh ghen), Nguyệt Cô hóa cáo(còn có các tên gọi Võ Tam Tư trảm Nguyệt CôCổ miếu vãn ca, còn gọi theo lối dân dã làChém Cáo)… Năm 2011 vừa qua, công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ của nhà nghiên cứu lão thành Vũ Ngọc Liễn đã tập hợp, giới thiệu trọn vẹn văn bản của ba vở tuồng này.
            Những nghiên cứu văn bản, cảm nhận, giai thoại về cuộc đời và sự nghiệp của nhà soạn tuồng Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu phần lớn chỉ đăng rải rác, mang tính chất bàn góp hoặc điểm xuyết trong quá trình nghiên cứu tuồng hát bội nói chung, chưa có công trình nào tập hợp đầy đủ và bước đầu có ý thức hệ thống như công trình của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn. Nhưng như tác giả công trình đã trình bày về việc biên soạn trong điều kiện bệnh tật, chạy đua với thời gian nên không khỏi còn bỏ sót, nhầm lẫn hoặc chưa đầy đủ, vì vậy trong phạm vi tham luận này, người viết xin điểm thêm một vài ý kiến đánh giá trong hệ thống tư liệu cá nhân thu thập được mà chưa được nói đến trong quyển sách của Vũ tiên sinh.
Đã có nhiều giai thoại truyền tụng về mối quan hệ thầy trò đặc biệt và cũng còn khá nhiều tồn nghi về tác phẩm của cụ Tú Nhơn Ân. Cho đến nay, vở duy nhất từng được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định là tác phẩm Nguyễn Diêu là Ngũ hổ Bình Tây mà chủ yếu được khai thác ở hồi II: Địch Thanh ly Thợn. Còn các vở Liệu đố (Chữa ghen) và Võ Tam Tư trảm Hồ (tứcNguyệt Cô hóa Cáo hay Chém Cáo, Cổ miếu vãn ca) thì nhiều công trình mới chỉ nhắc tên hoặc còn phân vân về tác giả, chưa mấy ai tiếp xúc văn bản, và cũng chưa thể khẳng định văn bản lưu truyền có phải nguyên vẹn là đứa con tinh thần của Nguyễn Diêu hay không. Mà giới” mộ điệu”, những người am hiểu về tuồng cứ thưa thớt dần, e rằng di sản của cụ Nguyễn sẽ bị chôn vùi cùng lớp bụi thời gian.
Trong bài viết của tác giả Thúy Vi (Bùi Văn Lợi) trong Báo Bình Định ngày 15.4.2003 ngoài việc nêu rõ ngày tháng năm sinh của Nguyễn Diêu (nhưng chưa rõ dựa vào tài liệu nào để khẳng định chính xác thời điểm sinh và mất của cụ, có lẽ vì vậy tác giả Vũ Ngọc Liễn để trống ngày tháng năm sinh – mất mà chỉ đưa ra khoảng thời gian mang tính chất tương đối), còn phác họa chân dung của một nhà nho lấy cuộc sống an bần lạc đạo, dạy học viết tuồng làm vui qua những bài thơ được lưu truyền rộng rãi của Quỳnh Phủ tiên sinh ở Bình Định. Phần nghiên cứu về tuồng chủ yếu cũng nhắc lại giai thoại học trò Đào Tấn sửa tuồng Ngũ hổ bình Tây của thầy học.
Thứ hai, là ý kiến của tác giả Tất Thắng trong Nghệ thuật tuồng – nhận thức từ một phía (NXB Văn học 2006) có đoạn phân tích về nội dung tư tưởng và triết lý trong Ngũ hổ bình Tây và Chém cáo. Tuy nhiên, phần nói về Chém cáo cũng chưa khẳng định dứt khoát tác giả mà để khuyết danh. Có lẽ đó là sự thận trọng cần thiết khi còn những tồn nghi Đào Tấn hay Nguyễn Diêu mới là tác giả đích thực của vở tuồng này?
Một công trình tái bản của Quách Tấn – Quách Giao là Đào Tấn và hát bội Bình Định (NXB Văn hóa Dân tộc, 2007) có nhắc nhiều đến giai thoại liên quan giữa thầy trò Nguyễn Diêu – Đào Tấn. Có nhiều ghi chép, nhiều bài lặp đi lặp lại câu chuyện chữa tuồng Ngũ hổ bình Tây và bàn luận về Cổ miếu vãn ca mà “nhóm mộ điệu” (hay quan điểm của Quách Tấn?) cho rằng tác giả là Đào Tấn. Phần phụ lục thứ 7 có giới thiệu bài viết “Nguyễn Diêu” của Quách Tấn, trong đó nói kĩ về hoàn cảnh và kí thác tâm sự của cụ Tú Nhơn Ân trong vở Ngũ hổ bình Tây liên quan đến mối tình oan nghiệt với con gái phú ông thuở hoa niên, phân tích nỗi lòng Trại Ba trong lớp “thoát trướng” như một minh chứng. Đồng thời trong bài viết này cũng nói rõ hoàn cảnh sáng tác vở Liệu đố khi cụ Tú đã già yếu, như động thái tạ ơn vua Tự Đức, được vua khen  “rất mực tài tình” và ban thưởng. Tác giả nêu nhận xét vở tuồng này hay về giá trị văn chương nhưng khó diễn vì “khó hát, cốt truyện lại không có gì đặc biệt, hát thấy nguôi cho nên không được phổ biến nơi kịch trường”. Trong công trình còn tóm tắt tương đối chi tiết các vở Ngũ hổ bình Tây, Liệu đố. Còn phần tóm tắt Cổ miếu vãn ca thì nêu là do Đào Tấn nhuận sắc từ một vở tuồng cũ có tên Nguyệt Cô hóa cáo, không nêu tên tác giả.
May thay, năm 2011 vừa rồi, nhà nghiên cứu lão thành Vũ Ngọc Liễn đã vượt qua cơn tai biến nhẹ, để hoàn thành công trình biên khảo Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ (NXB Sân khấu, 2011), cung cấp một cách tương đối hoàn chỉnh ba văn bản tuồng hát bội khẳng định cụ Tú Nhơn Ân là tác giả của ba vở : Ngũ hổ bình Tây, Liệu đố, Nguyệt Cô hóa cáo với những phác thảo ban đầu về một chân dung “kẻ sĩ đất thang mộc”. Việc đi tìm và phiên âm, hiệu đính những vở tuồng hát bội còn lại của Nguyễn Diêu chắc hẳn cần đến sự góp sức của đội ngũ kế cận. Người viết bài này cố gắng khai triển thêm những gợi ý từ người đi trước, phần khảo sát văn bản chủ yếu dựa vào cuốn sách của tác giả Vũ Ngọc Liễn, góp thêm một vài suy nghĩ xung quanh tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân. Do điều kiện thời gian, chủ yếu trong bài viết này tập trung nhiều hơn cho vở Ngũ hổ bình Tây và nêu một số nhận định sơ bộ về hai vở còn lại.
Qua việc tiếp cận văn bản của một người làm công tác nghiên cứu văn học, chắc chắn mới chỉ chạm đến phần thô, cái vỏ hình thức chứ chưa thể chạm đến hồn cốt của tuồng hát bội Nguyễn Diêu, xin không bàn đến các miếng, các trò diễn hay thủ pháp sân khấu. Sức kém tài hèn, những lời bàn góp của một kẻ hậu sinh không khỏi khiến cho những bậc trưởng thượng trong làng hát bội cười chê, cũng mong được hai chữ đại xá cho kẻ trót mang lòng yêu mà chưa biết cách nào chinh phục được bộ môn kén chọn tri âm này!
2. Sự khúc xạ của các quan niệm đạo lí phong kiến trong kịch bản tuồng Nguyễn Diêu
            Thời gian cụ Tú Nhơn Ân viết các vở tuồng hát bội là thời kì sùng Nho học đến mức mê muội của triều đình nhà Nguyễn (theo Các triều đại Việt Nam – Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng). Tự Đức là ông vua mê tuồng, nhưng căn cứ vào nhiều tài liệu thì dường như tuồng hát trong cung đình hoàn toàn khác về cảm hứng, đề tài so với tuồng trong dân gian. Cho nên nếu như phân loại, có thể nói, các vở tuồng của cụ Tú Nhơn Ân thuộc dòng tuồng dân gian, có đời sống riêng, ít chịu sự gò bó tư tưởng như các vở thuộc đề tài quân quốc. Hơn thế, nhìn vào các tác giả kịch bản đồng thời hoặc thế hệ hậu sinh, phần lớn là các trí thức Hán học uyên thâm, những ông tiến sĩ, cử nhân, tú tài nhưng dấu ấn quan phương có phần khá nặng trong đề tài, chủ đề. Từ Nguyễn Diêu đến Đào Tấn chính là quá trình biến chuyển trong đề tài, cảm hứng về các đề tài hiện thực và chịu sự chi phối của quan niệm đạo lí dân gian. Tuồng hát có sức sống mãnh liệt vào buổi ấy chính vì nói thay cho những tâm tư, tình cảm của quần chúng. Trong Ngũ Hổ Bình Tây, các chuẩn mực Trung – Hiếu vốn đứng đầu trong nhân luân theo quan niệm Nho giáo đã bị chữ Tình lấn át, mà độc đáo hơn chữ tình ấy đã vượt thoát khỏi ràng buộc tư tưởng phong kiến. Trại Ba vì chồng mà vi phạm chữ Hiếu với cha, cũng là quốc vương Khiết Đan, vậy là cũng vi phạm chữ Trung. Vậy mà vua Khiết Đơn cũng sẵn sàng tha thứ vì tình cha con. Ở đó, tình cha con, nghĩa vợ chồng đã hoàn toàn thắng thế. Địch Thanh khi bị Trại Ba chất vấn đã hoàn toàn đuối lí trước những bắt bẻ sắc sảo của phu nhân. Chữ Tình chi phối toàn bộ các hành động nhân vật.
            Hãy xem trong hồi I của Ngũ hổ Bình Tây, các hổ tướng cùng Địch Thanh khi đi đánh Tây Liêu đã phát ngôn rất tự đắc về vai trò kẻ chinh phục. Giọng điệu các nhân vật rặt một kiểu khẩu khí “trung quân báo quốc”, cao ngạo vai trò nước lớn. Hơn thế, khi giao chiến cùng Trại Ba thì rặt một điệu khinh thường nữ nhi. Chẳng hạn, Lưu Khánh ỷ thị tài phép, lớn tiếng thóa mạ Trại Ba:
Đã gặp tay nam tử
Chớ múa miệng nữ nhi
Chẳng thẹn mình rằng phận ngoại di
Lại muối mặt khoe tài cùng trung quốc gớm à!
            Lưu Khánh bị đả bại, đến Trương Trung, Thạch Ngọc khi đứng trước tình thế nguyên soái Địch Thanh phân vân vì lỡ đánh nhầm Đơn bang, lại nhơn nhơn dương oai diễu võ, tự ví mình như Hoắc Khứ Bệnh diệt trừ Hung Nô:
Thưa nguyên soái! Hễ là trai thì
            Chí khí oanh oanh liệt liệt
Chớ như Tử sanh hữu hữu vô vô
            Có thanh giặc Hung Nô
            Mới biết tài Khứ Bệnh [1]
            Ai dè, tứ tướng huênh hoang khoác lác thảy đều bại dưới tay Trại Ba, quả thật tình thế đảo ngược nơi chiến trường này đem lại cảm giác khinh khoái và làm cho nguyên soái Địch Thanh kinh hồn táng đởm, thân chinh giao chiến cùng Trại Ba phải hạ giọng, buột miệng khen tài công chúa Đơn bang. Ngũ hổ tướng phút chốc thành những con chuột nhỏ bị mèo vờn. Trại Ba thả sức tung hoành, giăng bẫy lưới tình trửng giỡn Tống trào nguyên soái! Giao chiến với danh tướng thượng quốc, Trại Ba chẳng coi lời khẩu khí ra gì, bắt tướng như trở bàn tay, muốn giết muốn tha tùy ý ! May mà Trại Ba thấy Địch Thanh đẹp trai, nên cũng phúc cho ngũ hổ tướng được toàn mạng :
Quân ! Thượng tù Địch Thanh
Hãy dung đó mượn hồn ít bữa
Sẽ chờ ngày lấy phách năm chàng
Chừ thời giam tại ải quan
Trạch nhật điệu hồi Đơn quốc.
            Cái chất hài hước của kịch bản Ngũ hổ bình Tây nằm ở đây ! Tiếng là ngũ hổ, nhưng lại thành một xâu tù, bị đả bại bởi một nữ nhi, đã vậy vô tù xa còn cãi nhau ỏm tỏi. Hỡi ôi ! Thể thống thiên triều trật ề thành một màn hài kịch nhốn nháo cuối hồi thứ nhất. Hào khí nước lớn đã thành trò giễu nhại, khi thất bại thì đổ thừa « Cớ sự ni cũng bởi anh Tiêu – Hoạn nạn ấy ở nơi chú Quý ». Còn Tiêu Đình Quý thì chẳng còn dáng dấp tiên phong mà hiện lên đúng chất kép hài trong màn thoại:
Các anh lấy đó mà coi !
Lời tôi nói thiệt
Phải mỗ rằng ngoa ?
Cái con mẹ này
Ý đã muốn xì xòa
Nên đem lòng chăm bẳm
Từ anh em vào trong này, tự thử chí tư
Giữ một bề cơm mắm
Chẳng thấy bữa cá ngon
Còn như Nguyên soái mới vào một bữa, cha chả là tử tế !
Tôm bạc cá tươi
Gà tiềm vịt xáo !
Thầy nhờ thì tớ cũng nhờ
Chớ như không Nguyên soái thì có ra gì đâu !
Anh khá thì em cũng khá
Giọng văn tuồng quả thật khoái hoạt, làm sụp đổ biểu tượng ngũ hổ trung quân báo quốc, khoa trương thanh thế. Lí tưởng anh hùng phong kiến đã hiện lên trong hồi đầu đã hiện thực hóa trong sự thảm bại nhục nhã, thấp cơ thua trí nữ nhi.
            Có ngẫu nhiên chăng khi cái lí trong những vở tuồng Nguyễn Diêu lại thuộc về những nhân vật nữ. Giả thuyết về mối bi tình của riêng cụ Tú Nhơn Ân phần nào cắt nghĩa cho những ân hận, dày vò của cụ về việc phụ tình người tri kỉ. Mới hay, trong tuồng đâu chỉ có mục tiêu minh họa cho những quan niệm đạo lí rập khuôn trong quan niệm phong kiến mà còn là nơi hé lộ dấu ấn cái tôi, cá tính sáng tạo của tác giả. Trong một nền văn học chuộng sùng cổ, ước lệ, phi ngã thì tuồng đã làm một cuộc đột phá để lí giải từ góc độ nhân tình thế thái phù hợp với quan niệm nhân dân và nhất là đã khởi đầu cho hành trình về với hiện thực của thể loại thiên về văn chương bác học này.
            Những tình tiết trong hồi II của Ngũ hổ bình Tây là Địch Thanh ly Thợn đã làm say mê bao thế hệ công chúng yêu tuồng. Đã nhiều nhà nghiên cứu bàn về hồi đặc sắc nhất này của Ngũ hổ bình Tây. Nếu như hồi 1 là niềm tơ tưởng về một người chồng lí tưởng của công chúa Trại Ba thì hồi 2 lại là nỗi thất vọng của bà vợ Trại Ba sắc sảo với anh chồng hời hợt Địch Thanh. Lúc này không còn là quan hệ đối địch hai phe Tống trào – Đơn bang nữa mà quan hệ chủ yếu trong hồi này xoay quanh tình mẹ con (Địch Thanh – Địch mẫu), tình cha con (Phiên vương – Trại Ba), tình vợ chồng (Trại Ba – Địch Thanh),… Không gian kịch cũng không có cái uy nghi quy củ triều đình quần thần hay cảnh dàn binh bố trận đối địch mà mang màu sắc dân dã cùng với sáng tạo về nhân vật Lí trưởng trong hệ thống chức dịch làng xã Việt Nam và cảnh gặp gỡ Trại Ba – Địch Thanh nơi cửa ải Cáp Man trấn giữ giống như khung cảnh gia đình vợ chồng lời qua tiếng lại. Sáng tạo này của cụ Tú Nhơn Ân đem lại cảm giác gần gũi của sân khấu hát bội với công chúng bình dân, để chuyển hướng hồi 2 thành những đối thoại về nhân tình thế thái. Những suy nghĩ của các nhân vật gắn quan niệm, cách đánh giá theo quan niệm nhân dân. Những lí giải xoay quanh xung đột Hiếu – Trung, nghĩa quân thần, đạo vợ chồng… được gia thêm chữ Tình vốn dĩ nằm ngoài ngũ luân phong kiến. Sự xuất sắc của hồi Địch Thanh ly Thợn này chính là khả năng lột tả tính cách nhân vật trong những tâm trạng giằng xé. Đặc biệt ở hai nhân vật trung tâm là tâm trạng đặt vào trong những tình thế khó xử. Trước hết là Địch Thanh, anh ta vào tình thế bị thất thế mà phải trá hôn, vì tình mẫu tử mà hy sinh nghĩa vợ chồng, trắng trợn dối gạt người vợ Phiên bang đã đầu gối tay ấp. Ý tứ về nhân vật ẩn trong lời hát đòi hỏi người diễn viên phải thật sự thấu đạt kịch bản để lột tả những xung đột trong lòng Địch Thanh qua lời thán:
… Phụng thánh chỉ bình nhung
Ngã Địch Thanh nguyên soái
Như ta Lỡ bước vì người Đình Quý
            Gá duyên tạm với Thoại Ba
            Trăng hồng lâu giục não cùng ta
            Gió cố quốc đưa sầu cho mỗ
Mẹ, mẹ ôi!
            Mẹ nương cửa, nhọc tình triêu mộ
            Con trông mây, tủi phận thần hôn…
            Sau khi được Lưu Khánh báo tin mẹ bị hạ ngục, kể từ đây Địch Thanh tỏ ra bi lụy khóc thương và tìm mọi cách dối vợ bỏ Đơn bang tiếp tục sự nghiệp bình Liêu. Mọi sự biện bạch lí giải cho hành động của Địch Thanh là do hiếu – trung, bỏ qua sự chăm sóc yêu thương của Trại Ba. Một lần nữa, vai trò của Trại Ba lại lấn át hoàn toàn nguyên soái đứng đầu trong ngũ hổ. Những lời thoại của Trại Ba được trau chuốt công phu bộc bạch tấm chân tình và cái giận dữ con nhà võ khi lâm vào cảnh bị chồng bỏ rơi, ra đi không lời từ biệt. tiết tấu màn truy đuổi thật nhanh trong những lời thoại ngắn tạo tình thế khẩn trương. Xét ra, Địch Thanh đường đường nguyên soái Tống trào nhưng thất thế trước Trại Ba mọi mặt, trong vai kẻ đào tẩu khi gặp người tầm nã lại là bà vợ rất dữ dội, đúng là lâm cảnh như lời Lưu Khánh nhận định: “Ăn xôi chùa ngọng miệng – Mắc nước bí bó tay”. Hai phen chạm mặt Trại Ba, Địch Thanh đều đuối lí đành phải xuống nước năn nỉ. Trại Ba vì lụy tình, đau khổ mà phải nén vào lòng, giận Địch Thanh bạc nghĩa bạc tình nhưng lại tỏ ra hiểu đạo lí, giàu lòng vị tha nên đành cho Địch Thanh qua ải phạt Liêu để làm tròn hai chữ Hiếu – Trung. Nhiều bài viết đã chỉ ra “nỗi thốn tâm thiên cổ” cụ Tú Nhơn Ân gửi vào hồi Địch Thanh ly Thợn này, qua những hờn trách oán sầu thương hận của Trại Ba, nên xin phép không nhắc lại trong bài viết này. Chỉ xin nhấn mạnh một lần nữa nét độc đáo: tên tuồng là Ngũ hổ bình Tây, nhưng làm nên sức sống của cả ba hồi diễn lại là nàng công chúa Trại Ba đầy cá tính, đây cũng là đóng góp độc đáo nhất của Nguyễn Diêu gợi nhớ hình ảnh những nữ tướng tài ba lừng danh đất võ Bình Định từ thời Tây Sơn. Phải chăng đó cũng là một lí do để công chúng Bình Định đặc biệt hâm mộ vở tuồng này?
Hơn thế, sự gia công trau chuốt kịch bản của người học trò xuất sắc Đào Tấn với di sản của thầy học ở hồi thứ 2 này lại là một minh chứng cho con đường của tuồng hát khi đi vào đời sống dân gian, lấy thị hiếu công chúng làm trọng chứ không câu nệ vào sự gò bó câu thúc của những nguyên tắc như tuồng cung đình. Lấy chất lượng làm trọng, không chỉ là gia công vào mảng miếng chiêu trò, mà khâu kịch bản tuồng cũng có những gia công của những nghệ nhân, những bậc thầy tuồng hát, khiến Ngũ hổ bình Tây có nhiều biến đổi, nhuận sắc đẹp hơn, hay hơn so với kịch bản ban đầu. Từ đây, ta cũng nhận ra bài học về cải biên, phát triển vốn cổ cho phù hợp với cuộc sống đương đại. Riêng ở lĩnh vực này, Đào công đã có những bước tiến vượt bậc so với thầy học của mình.
**
*
Liệu đố (Chữa bệnh ghen) được lược thuật lại trong công trình của Quách Tấn – Quách Giao, và theo hiện trạng của văn bản do nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn sưu tầm, chúng ta nhận ra điểm thú vị trong sự gia công nhuận sắc và những phẩm bình của người đời sau với vở tuồng. Những bài thơ về Thổ Địa, trong màn diễn cương dường như đã được tu chỉnh cho phù hợp không khí của những ngày kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V, nên tài liệu của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn dẫn ra phần Phẩm bình tuồng Liệu đố có những lớp từ hiện tại để nói về các màn diễn như Thổ địa đi công tác, Thổ Địa nhậu rượu… Ý nghĩa vở tuồng đâu chỉ nói chuyện đàn ông năm thê bảy thiếp trong thời phong kiến mà dường như còn có giá trị nhất định trong hoàn cảnh xã hội hiện đại. Thổ Địa đã đóng vai trò như ban hòa giải nhân dân, lấy tình làm trọng để khuyên nhủ con người biết bao dung trước hoàn cảnh. Kể ra, nội dung vở tuồng này hiện nay khó diễn vì chẳng khác nào cổ vũ cho các ông đa thê, nhưng có thể tiếp thu tinh thần khoan dung nơi chị em trước những lỗi lầm của đấng phu quân!!! Cách chữa bệnh ghen khá độc đáo, phải viện dẫn sự trợ lực từ thế giới khác, với vai trò Thổ Địa và anh hồn của mẹ vợ chốn Dạ Đài mới hóa giải được. Liệu vở tuồng này có liên quan đến ẩn ức nào trong đời sống tác giả hay không, có lẽ cũng cần một sự tìm hiểu kĩ càng hơn.
Vở tuồng có nhiều công phu trong diễn xuất và tập trung chất bi kịch của cuộc sống là Võ Tam Tư trảm Nguyệt Cô (Nguyệt Cô hóa cáo). Nhân vật này có nhiều điểm đáng thương khi phải trả giá cho bệnh mê trai (!). Mà cũng lạ, phần lớn các nhân vật tạo sóng gió và đóng vai trò trung tâm trong tuồng của cụ Tú Nhơn Ân như đều mắc chung căn bệnh này. Tuy nhiên, chỉ có Nguyệt Cô là phải trả giá đau đớn cho khát khao được sống được yêu như một con người của mình. Sự táo bạo của nội dung vở diễn khiến nhiều gánh hát thời xưa phải e dè vì các hương thân hào sĩ sợ phạm thuần phong giáo hóa. Như vậy cũng là một bất công cho vở tuồng, khi trở thành nạn nhân của lối thưởng ngoạn phi nghệ thuật. Tuy nhiên cũng lại là một nghịch lí khi vở tuồng ít được diễn thời phong kiến mà lại luôn được đưa ra bàn luận tranh cãi, thậm chí còn tạo xung đột ẩu đả như một cách bảo vệ danh dự vùng miền (theo như lời kể trong giai thoại của Quách Tấn – Quách Giao)[2]. Câu chuyện từ cáo thành người, rồi do mất ngọc người phải trở về kiếp cáo đem lại những bàn luận trái chiều, nhưng không thể phủ nhận đây là vở giàu chất văn học hơn cả, mang đậm dấu ấn rất riêng của cụ Tú Diêu, nếu không muốn nói là một thành tựu cách tân táo bạo nói chung của tuồng hát bội trên hành trình thâm nhập hiện thực. Nhà nghiên cứu Tất Thắng đã rất có lí khi cho rằng: “Với Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, nghệ thuật Tuồng đã đạt tới mức điêu luyện cổ điển trong việc đặc tả cùng một lúc cả ngoại hình và nội tâm nhân vật. Với ngôn ngữ khác lạ hóa, Tuồng đã diễn tả được một hiện tượng không có thật trong đời sống, mà chỉ diễn ra trong sự mường tượng của con người. tính nhân văn tràn đầy và tính triết lí sâu sắc, tính huyền thoại độc đáo của Tuồng đã tìm thấy ở mảnh trò này một minh chứng đầy sức thuyết phục” (Nghệ thuật Tuồng – nhận thức từ một phía, tr.123). Nói thẳng ra, Quỳnh Phủ tiên sinh đã thật sự làm một cuộc cách mạng, cũng giống như Nguyễn Dữ mô tả những cảnh làm tình trong Truyền kì mạn lục, Hồ Xuân Hương đưa những biểu tượng dục tính vào trong thơ, thì màn giao hoan Nguyệt Cô – Tiết Giao là sự táo bạo (có thể là duy nhất) trong nghệ thuật hát bội. Và tiếp cận từ góc độ này, chúng ta thấy những lời buộc tội vở tuồng phạm phải thuần phong giáo hóa là vô căn cứ. Đáng kết án là Lí Tịnh chủ mưu và Tiết Giao đồng phạm đã lợi dụng lòng si mê của Nguyệt Cô để tước đoạt quyền làm người của nàng, và Nguyệt Cô vì phút mất cảnh giác buông thả cho bản năng đã để mất đi chất ngọc người ngàn năm tu luyện. Bài học nhân tình thế thái từ nhiều khía cạnh đã tạo cho vở tuồng mang tính đa thanh phức điệu, không đơn thuần một xu thế giáo huấn như nhiều vở tuồng cổ khác.
3. Nghệ thuật tạo xung đột trong các vở tuồng của Nguyễn Diêu:
            Trong các giả thiết đưa ra, gạt bỏ những tồn nghi để đi tìm một bản sắc đích thực trong văn tuồng Nguyễn Diêu, người viết cũng thiên về giả thiết cho rằng tuồng của ông đã nhiều lần có bàn tay gia công, nhuận sắc chỉnh lí của người đời sau. Nhưng cái hồn cốt của từng vở vẫn còn nguyên vẹn. Phần lớn những xung đột kịch đều đơn giản, cách xử lí không quá nhiều trăn trở và nhiều tâm trạng ở các nhân vật như trong tuồng Đào Tấn.
            Xung đột tạo kịch tính truyền thống trong tuồng hát bội khai thác trong các tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa thường chuộng đề tài quân quốc với mô-tip “vua băng nịnh tiếm, bà thứ mắc nạn, ông trạng bị vây, chém nịnh định đô, tôn vương tức vị”, thường phân thành hai phe rạch ròi trung – nịnh. Tuồng Nguyễn Diêu trong khảo sát này có hai vở thuộc hình thức diễn truyện, diễn ca, lấy từ tích trong các tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa. Một mặt, nó trung thành với nguyên tác, cốt truyện của tiểu thuyết, nhưng không phụ thuộc hoàn toàn vào gốc truyện. Mặt khác, xung đột được khai triển theo dụng ý nghệ thuật riêng của tác giả, làm biến dạng nguyên bản và định hướng cho xử lí lột tả tính cách nhân vật trên sân khấu.
            Cũng từ những chuyển hướng quan niệm từ các vấn đề đạo lí phong kiến truyền thống sang đạo lí nhân dân, ta xác định được những xung đột cơ bản và xung đột thứ yếu trong tuồng Nguyễn Diêu. Ở Ngũ hổ bình Tây, nếu theo cách diễn truyện truyền thống thì ắt hẳn xung đột cơ bản phải là giữa phe thái sư Bàng Hồng và ngũ hổ tướng, để đề cao lòng tận trung báo quốc, trung nghĩa thắng gian nịnh. Vậy mà xung đột trong các hồi 1, 2, 3 đều không tập trung vào mối quan hệ cơ bản của tuồng “quân quốc” mà chỉ mượn cái xác “tôn quân” để chuyển cái hồn “trọng nghĩa”, “lụy tình” mà thôi. Ở hồi 1, xung đột bắt đầu từ nhầm lẫn trên đường chinh phạt, thay vì bình Liêu thì ngũ hổ lại quá quan trảm tướng của… Đơn bang! Thế nhưng đối đầu Tống quốc – Đơn bang giữa một bên là Địch Thanh mang ấn nguyên nhung và một bên là Trại Ba công chúa. Cái khéo và cái ngộ nghĩnh của hồi 1 là: đầu tiên bốn tướng bị Trại Ba đánh cho tơi tả, nhụt nhuệ khí binh tướng thiên triều, cũng làm hả dạ nữ nhi hạ uy hổ tướng! Tiếp theo cuộc đối đầu Địch Thanh – Trại Ba đã chuyển thành xung đột tình – thù. Mọi suy nghĩ, tâm trạng của Trại Ba đều hướng tới mục tiêu chinh phục ông Tống tướng đẹp trai. Để rồi, Địch Thanh từ vai trò kẻ đi chinh phục bị lâm vào thế bị động, thúc thủ trước mưu kế rất “quái” của Trại Ba. Công chúa Đơn bang làm Tống trào nguyên soái bị xỏ mũi, dắt dây! Hồi 1 chính là quá trình dẫn giải sự thắng thế tuyệt đối của nữ quyền trước các đấng nam nhi đại trượng phu khua môi múa mỏ. Đến hồi 2 – Địch Thanh ly Thợn, lớp “Trại Ba thoát trướng” tập trung xung đột cơ bản của hồi tuồng. Xung đột trong hồi này có phần tản mạn vì liên quan nhiều không gian, biến cố dồn dập, có nhiều lớp diễn khác nhau. Địch Thanh phát ngôn mạnh miệng trung quân báo quốc nhưng thực tế là do muốn cứu mẹ cho trọn đạo hiếu. Nhưng đứng trước Trại Ba, chàng ta không thể biện bạch được lí do đào tẩu của mình. Xung đột lí – tình hai phen giữa vợ chồng lên đến cao trào, dẫu có Lưu Khánh trợ lực thì Địch Thanh cũng ngậm hột thị không thể chối tội bạc tình. Cụ Tú Nhơn Ân có lẽ dồn hết bút lực cho đoạn tâm đắc ẩn chứa tâm sự chính mình này:
Địch Thanh: Thưa Công chúa! Công chúa giận cũng phải, làm ngơ cũng phải. nhưng mà xin Công chúa nghĩ lãi cho hạ quan nhờ
                    Nếu bó tay hào kiệt
                    Không trả nợ anh hùng
                    Bận nỗi vợ nỗi chồng
                    Sao rằng trung rằng hiếu?
Công chúa: Á thôi! Ai không cho ông nguyên soái hiếu? Ai không cho ông nguyên soái trung? Bớ ông nguyên soái! Tôi hỏi
                    Muốn hiếu trung phải vẹn chữ thỉ chung
                    Đường khứ tựu phải cho minh bạch
                    Làm một ông nguyên soái như ông, cha chả là lịch sự!
                    Đã trốn đi lấm lét
                    Mà lại nói bơ thờ
                    Còn trách làm ngơ
                    Nghĩ không nên giận hay mần răng?
Địch Thanh: Thưa Công chúa! Công chúa giận cũng phải, làm lơ cũng phải. nhưng rứa mà công chúa nghĩ lại cho kẻ hạ quan nhờ. Nay thằng Bàng Hồng nó sàm tấu rằng kẻ hạ quan phản quốc sự cừu, cho nên nó được lệnh thiên tử câu thủ mẫu thân giam vu ngục nội, thời đã rồi! Có phải là 
                    Oan ấy ỷ khôn đôi chối
Nên chi        Lụy này đòi bữa chứa chan
                    (Công chúa lau nước mắt v.v…)
Những tưởng với lời biện bạch ấy có thể làm mềm lòng công chúa, Địch Thanh trổ tài hùng biện lấy phận làm con áp đảo Trại Ba, nhưng một lời công chúa dồn Địch Thanh cứng họng, bẻ gãy cái lí hồ đồ:
Công chúa: Nguyên soái biết thương mẹ, chớ thiếp chẳng biết thương mẹ hay mần răng?
            Mẹ Tề như mẹ Tấn
            Lòng đó cũng lòng đây
  Như nay Nguyên soái có thương mẹ thì Nguyên soái cũng nói cùng thiếp, đặng thiếp vào thiếp tâu cùng  phụ vương thiếp, gia binh mã cho Nguyên soái đi
Dẫu có chi, cũng chẳng can chi
Nay Nguyên soái trốn đi! Có phải là
Bởi thương lắm, cho nên mới giận lắm!
Rõ ràng công chúa Đơn bang cũng hiểu đạo lí, không ngăn cản chồng làm tròn chữ Hiếu chữ Trung! Thương mà giận người đầu gối tay ấp không trọng nghĩa vợ chồng, hành động thiếu minh bạch, lộ mặt bạc tình. Mâu thuẫn chưa giải, lại thêm Lưu Khánh châm dầu vào lửa, vậy là lửa giận phừng phừng, nước này thầy trò Địch Thanh chỉ còn dụng chước “dĩ đào vi thượng” mà thôi! Phải đến khi tới Hỏa Phong Quan, nàng mới hạ hỏa mà đành: “Cắn răng mà chịu chữ đoạn tràng – Nhắm mắt lại chờ ngày tái hiệp” để lúc đó Địch Thanh mới hiểu dạ “tư phu thục nữ” mà cư xử đúng đạo phu thê. Cũng phải nói thêm là phần nhuận sắc của Đào Tấn giúp cho xung đột hóa giải được trọn vẹn và cũng thể tất phần nào khi bổ sung thêm dăm lời tình nghĩa mặn nồng cho Địch Thanh tương xứng với tấm lòng Trại Ba công chúa.
Xung đột hồi 3 của vở tuồng ít nhiều mang dáng dấp quen thuộc của nhiều vở tuồng quân quốc, với tình huống Địch Thanh bị vây khổn bởi Tinh La Hải, phải nhờ vợ giải cứu. Viết hồi 3, Quỳnh Phủ tiên sinh cũng không quá chú trọng vào tình thế gay cấn đối địch Tống – Liêu mà muốn giải quyết cho trọn vẹn nỗi ấm ức của cha con Trại Ba, cơn giận bị Lưu Khánh đập một côn, Tiêu Đình Quý buông lời xỉ mạ. Ngũ hổ tướng của tuồng Nguyễn Diêu cố tỏ vẻ oai phong lẫm liệt, hùng tâm tráng chí thì đến hồi này mang đậm chất bi hài, phải dập đầu tạ tội nguyên soái phu nhân, cậy nhờ tài năng nữ nhi mới thoát khốn đốn ở Bạch Hạc quan. Màu sắc dân dã tuồng hài đậm nét hơn cả trong hồi thứ 3 này, với những xung đột tạo tiếng cười sảng khoái, cùng sự xuất hiện của một loạt các nhân vật độ phu (chèo đò), quán, lý trưởng Đơn quốc… Lí tưởng lập công dương danh xem chừng đã mờ nhạt, thiên binh vạn mã Tống quốc phải cậy nhờ tài nhi nữ Đơn bang mới hoàn thành sự nghiệp bình Liêu. Vở tuồng đã vượt thoát khuôn khổ ước lệ, mang hơi thở hiện thực gần gũi với nhân dân, đáng gọi là “tuồng thầy” về tuồng tình cảm.
Vở thứ hai cũng lấy đề tài từ tiểu thuyết chương hồi là Nguyệt Cô hóa cáo, trong bộ ba Thuyết Đường – Phản Đường – Tàn Đường gọi chung là Thuyết Đường diễn nghĩa. Xung đột kịch ở vở này có nhiều éo le, mang hơi hướng triết lí nhân sinh đậm nét. Đề tài vở này ít nhiều đụng chạm đến vấn đề cấm kị phong kiến nên có thể nói cụ Tú Nhơn Ân đã thật sự khai phá cho một mảng tâm lý – tình cảm trong Tuồng. Nhân vật trung tâm  lại tiếp tục là nữ, hơn nữa lại là hồ ly tinh tu luyện mà thành. Không rõ khi sáng tạo những xung đột cho vở tuồng này, cụ Tú có ám ảnh bởi mối oan tình với người con gái đã vì ông mà quyên sinh hay không, nên các xung đột đối địch giữa các nhân vật Tiết Giao – Nguyệt Cô bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Xung đột bên trong của Nguyệt Cô mới thật sự tạo nên chấn động tâm tư của người thưởng thức. Bản chất hồ ly được thể hiện trong kịch bản qua sự mê đắm Tiết Giao của Nguyệt Cô thực ra khiến người xem dễ cảm thông và chia sẻ. Phải chăng cuộc sống của một nho sĩ không bị câu thúc trong những ràng buộc của chốn quan trường đã giúp Nguyễn tiên sinh khai thác khá táo bạo những khát vọng thầm kín, những xung đột Yêu và Hận của Nguyệt Cô để làm nên những giằng xé nội tâm đầy ám ảnh của nhân vật và khiến cho độc giả và đặc biệt là khán giả hát bội phải rùng mình trong bi kịch Người – Cáo của nàng? Sức hấp dẫn của Nguyệt Cô cũng khiến cho xung đột bi kịch đẩy đến cao trào khó thấy ở những vở tuồng khác, làm tiền đề cho hướng phát triển của tuồng hát bội lãng mạn sau này phát huy trí tưởng tượng và cảm xúc mãnh liệt.
Với Liệu đố, tác phẩm theo tài liệu của Quách Tấn – Quách Giao cho rằng được viết khoảng 1872 – 1880 khi tác giả đã qua tuổi “tri thiên mệnh”, ta thấy rõ một Nguyễn Diêu rất sâu sắc và bao dung trong xử lí những mâu thuẫn éo le về nhân tình thế thái, trong bối cảnh một xã hội phổ biến tình trạng “đàn ông năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Đây là vở tuồng hư cấu nhưng rõ ràng đã khai thác tối đa từ hiện thực để xây dựng nên một nhân vật “ghen bất hư truyền”! Mối lương duyên Châu Anh – Kim Liên dường như có yếu tố “thiên duyên tiền định” nhưng quả thật đã đẩy các nhân vật trong cuộc vào tình thế tréo ngoe: Châu Anh có vợ bé, Ngọc Mai nổi cơn ghen trời long đất lở, táng đởm kinh hồn. Kịch bản này là một sáng tạo của Nguyễn Diêu khi không dựa vào một tuồng tích, câu chuyện nào có sẵn trong tiểu thuyết chương hồi, mang sắc thái bình dân khi xoay quanh quan hệ gia đình, xung đột giữa những người phụ nữ trong cảnh “lấy chồng chung”. Nhân vật trung tâm là người vợ bé Kim Liên, chịu phận tiểu tinh nhưng đã thể hiện lòng vị tha để cảm hóa Ngọc Anh. Chủ đề cũng thật độc đáo khi tác giả đưa ra các giải pháp “chữa bệnh ghen”. Nguyễn Du đã từng đưa ra một nhân vật Hoạn Thư trước đó, hẳn cụ Nguyễn Du cũng không hay rằng trong tuồng hát bội của Nguyễn Diêu còn tô đậm tính cách tâm trạng người đàn bà ghen tuông lên đến một mức trần thế không có cách ghen nào lạ đời đến vậy! Kể ra vở tuồng này đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại với chế độ một vợ một chồng thì cũng khó có đất diễn, nhưng đặt vào bối cảnh thời phong kiến thì không hiếm những khán giả thời đó nhìn thấy mình trong đó. Tác giả tạo nhiều tình huống khác nhau, kể cả khi Ngọc Mai – Kim Liên cùng chung hoạn nạn, vào sinh ra tử; rồi cả Thổ Địa, âm hồn cùng can thiệp nhưng không hóa giải nổi căn bệnh ghen. Chỉ có Kim Liên bằng sự cam chịu và cả đức hy sinh cao cả mới cảm hóa nổi người vợ lớn, biến hận thành thương, âu cũng là một giải pháp khả dĩ trước chuyện đã rồi. Cái thú vị là khi xây dựng kịch bản này, có lẽ Nguyễn Diêu cũng xuất phát từ cảm hứng hiện thực nơi làng quê ông sống, đưa vào khá nhiều thành ngữ tục ngữ dân gian và dường như có cả những mảng miếng tuồng tích từ bài chòi, truyện cổ dân gian kiểu Thoại Khanh Châu Tuấn để sáng tạo tình huống cắt thịt người giúp Ngọc Mai giải bệnh quỷ! Xung đột hài được khai thác tối đa nhằm tạo tiếng cười sảng khoái và hướng về xu hướng hòa giải bằng lòng vị tha, cảm thông giữa những người phụ nữ với nhau. Bởi vậy, trong hệ thống tuồng hài, vở Liệu đố cũng đáng được xếp vào vị trí những vở tuồng tiêu biểu gắn quan hệ làng xã ngày xưa.
4. Tạm thay lời kết
Trong phạm vi một tham luận nhỏ, người viết không có điều kiện để khai thác thêm những điều rất đáng bàn trong kịch bản tuồng Nguyễn Diêu. Chẳng hạn về chất thơ rất đặc trưng của tuồng hát Bình Định đã được Nguyễn Diêu vận dụng khá nhuần nhuyễn. Mặc dù hạn chế của các vở này là thơ chữ Hán quá nhiều điển tích điển cố và chưa đạt đến chất trau chuốt của văn chương bác học như tuồng sau này của người học trò xuất sắc Đào Tấn. Nhưng rõ ràng, sự biến hóa linh hoạt trong vận dụng nhiều thể thơ luật Đường. lục bát, nói vè… cũng tạo nên tiết tấu riêng và phát triển vượt bậc so với tuồng nói kiểu Sơn Hậu phần lớn thiên về nói lối. Hoặc giả từ những khai phá ban đầu trong việc khắc họa nội tâm, xây dựng tính cách trong tuồng của cụ tú Nhơn Ân, sau này Đào Tấn đã đưa nghệ thuật tuồng lên đỉnh cao rực rỡ, mẫu mực. Những vấn đề như vậy đòi hỏi phải có hẳn một chuyên luận dài hơi.
  Bản thân người viết mới chủ yếu tiếp xúc tuồng hát bội Nguyễn Diêu qua kịch bản, bởi vậy những ý kiến trong tham luận này chủ yếu xem xét từ phía kịch bản văn học, không tránh khỏi có những phiến diện. Nhưng có thể thấy sức hấp dẫn của tuồng cụ tú Nhơn Ân vẫn rất sâu rộng trong đời sống đương đại ở địa phương Bình Định, đặc biệt ở quê hương Tuy Phước lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị về việc diễn màn đoạt đò trong Ngũ hổ bình Tây bằng cách dựng sân khấu trên một quãng đìa nước, chuyện những đào kép diễn xuất thần Nguyệt cô hóa cáo. Một ông chú tôi là Hương Sơn lão sĩ Trần Đình Chi, thời trẻ từng theo làm kép trong các đoàn hát cứu trợ, năm nay tuổi đã 90 bị nằm bệnh viện vì gãy xương, đã nói tôi mang vào bản Ngũ Hổ Bình Tây để đọc và nhẩm hát theo cho quên đau đớn. Trong các dịp tế hiệp, đầu xuân, tuồng Nguyễn Diêu vẫn có mặt trong các vở diễn hát hiến bà con ở khắp các vùng quê…
            Có thể thấy Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu có một vị trí quan trọng trong đội ngũ các tác gia tuồng làm nên đặc trưng riêng của tuồng Bình Định. Đóng góp lớn của ông không chỉ ở vai trò thầy dạy tuồng cho một tài năng kiệt xuất là Tô Giang Đào Tấn mà bên cạnh đó còn góp cho hậu thế những vở tuồng đặc sắc, có dấu ấn sáng tạo riêng. Đó là sự phá vỡ đề tài quân quốc truyền thống, sự táo bạo trong xử lý đề tài phong tình vượt ra khuôn khổ lễ giáo, đặc biệt là xây dựng được những nhân vật nữ vừa là đào võ – đào thương mang đậm sắc thái, tính cách con người vùng đất võ. Hy vọng rằng trong việc bảo tồn và phát triển tuồng truyền thống, những nhà nghiên cứu, đội ngũ diễn viên sẽ tìm ra và kế thừa được thêm di sản quý trong tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân, lưu giữ được những nét riêng của dòng tuồng Bình Định.
                                                                                    Bình Định, tháng 5 năm 2012
                                                                                                TRẦN HÀ NAM
Tài liệu tham khảo:
  1. Tuồng cổ, tập 1 – Hoàng Châu Kí, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1978
  2. Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại – Trần Đình Hượu, NXB Giáo dục, 1999
  3. Nghệ thuật tuồng – nhận thức từ một phía – Tất Thắng, NXB Văn học 2006
  4. Đào Tấn và hát bội Bình Định – Quách Tấn, Quách Giao, NXB Văn hóa dân tộc 2007
  5. Góp nhặt dọc đường – Vũ Ngọc Liễn, NXB Sân khấu, 2011
  6. Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu, ông đồ nghệ sĩ – Vũ Ngọc Liễn, NXB Sân khấu, 2012
[1] Hoắc Khứ Bệnh (140 – 117 TCN) danh tướng của Hán Vũ Đế có công dẹp Hung Nô giữ yên bờ cõi phía Bắc Trung Hoa.
[2] Chuyện kể về ông Tôn thất người Huế bị Đoàn Phong ở Tây Sơn đá hộc máu vì nói xúc xiểm tính cách người Bình Định nhân bàn đến Cổ miếu vãn ca (Nguyệt Cô hóa cáo)

Ngày 14 tháng 7, Chú ơi!!!


Hôm nay là một ngày buồn nữa trong năm nay. Buổi sáng, trước khi đi dạy, mở mail nhận được tin chú đã đưa về nhà. Cũng mong một phép màu nào xảy ra, kéo dài thêm ít nhất mấy tháng nữa như Mẹ. Không dám tắt điện thoại, đang dạy thì tin dữ bay tới: chú đã đi rồi! Ráng ngăn cảm xúc riêng tư để hoàn thành bài giảng, rồi tất bật chạy về nhà, để chuẩn bị các thủ tục cho thím đưa chú từ Pháp về.
Viết lại tiểu sử chú, thấy có một điều trùng hợp ngẫu nhiên: chú sinh vào 14.7. Kỉ Mão và mất vào 14.7.2012 – đúng ngày Quốc khánh Cộng hòa Pháp. Phần lớn cuộc đời chú từ lúc thành danh cũng gắn bó với nước Pháp. Nhưng dù là một nhà khoa học được cả thế giới biết đến với công trình cộng hưởng từ cũng như tham gia nhiều hội thảo khoa học, chú vẫn đau đáu một nỗi niềm hướng về quê nhà. Hôm trước em Khoa còn gọi điện về nói tâm nguyện của chú muốn cống hiến toàn bộ công trình khoa học cho một trường Đại học của Việt Nam. Nghĩ đến nội dung phần lớn công trình của chú là ứng dụng năng lượng hạt nhân cho Sinh học và Y học, đã nghĩ sẽ phải liên hệ với Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, nhưng chưa kịp thì chú đã đi…
Còn nhớ lần đầu tiên gặp chú là năm 1985, chú đưa cả gia đình về Việt Nam lần đầu tiên: thím, em Chu – em Kim – em Nam. Hồi đó mới học lớp 11 nhưng mới gặp đã cảm thấy gần gũi thân thiết với chú biết chừng nào. Trong các anh em ruột thịt, có lẽ chú giống Ông Nội nhất, càng lớn càng giống. Từ dáng người, khuôn mặt cho đến cách làm việc nghiên cứu cẩn trọng.
Lần cuối chú về Việt Nam, có lẽ cũng do linh tính mà các chú các cô từ Mỹ cũng về. Nhìn tóc chú bạc trắng, lòng đã thắt lại lo cho sức khỏe của chú. Ai dè, nhanh quá! Lần về này, chú đã gặp tất cả những con cháu, dường như có một điều chú đã biết mà không muốn nói ra, về khoảnh khắc tử biệt sinh ly sắp đến gần. Chú về Nha Trang rồi lại ra lại Quy Nhơn, kêu đưa cháu Thiên Lương ra học với ông Tam. Thằng nhỏ nhà mình quả thật hạnh phúc khi được ông kem trong vòng 10 ngày mà học cách tính toán môn Toán, băng qua chương trình lớp 8, 9, 10 – quả thật chú là một ông thầy siêu việt với phương pháp truyền thụ và động viên thiên tài, khiến các cháu học ông càng lúc càng mê. Có ngờ đâu duyên hạnh ngộ chỉ có vậy. Nhưng những gì còn lại, chắc chắn sẽ còn được các con cháu nhớ mãi.
Chú là tấm gương lớn trong dòng họ về đức hiếu học, đỗ đạt thành tài cao nhất, trở thành nhà khoa học quốc tế, đầy tâm huyết với quê hương dòng họ, anh em con cháu. Sẽ còn bao nhiêu thế hệ con cháu nhớ về chú, người mở màn cho phong trào khuyến học dòng họ, tiếp nối truyền thống tốt đẹp từ ông nghè – cụ Tú Hương Tiều, Ông nội – cụ cử Hà Trì. Nhìn lại, đám con cháu đời thứ 10 không khỏi cảm thấy hổ thẹn vì chưa có cháu nào đạt bằng tiến sĩ – cũng chỉ có em Nam tước con chú là tiến sĩ Địa chất học mà thôi! Thạc sĩ, bác sĩ nhiều nhưng cũng mới chỉ chủ yếu lo vun vén cho gia đình riêng mà chưa đóng góp xây dựng mở mang học vấn cho dòng tộc như chú.
Chú kính yêu,
Con cảm thấy thật có lỗi khi không trò chuyện gần gũi chú nhiều hơn để hiểu chú, học chú nhiều hơn. Nhưng những gì con tiếp thu từ chú, con cũng ráng sức gìn giữ như là gia bảo. Một lời khuyên giữ gìn tình yêu thương trong dòng tộc, một lời nhắn nhủ giữ vững truyền thống gia đình cũng là động lực cho con nỗ lực nhiều hơn.
Con biết những ngày này và nhiều ngày tới, thím và các em sẽ còn đau buồn vì sự vắng mặt của chú. Nhưng con cũng tin rằng chú đã để lại trọn vẹn tình yêu thương cho thím và các em. Cả họ tộc và gia đình đang làm tất cả mọi việc nhanh nhất để đón chú về với đất tổ, để chú có thể nằm lại giữa những người thân yêu trên quê hương mình. Tụi con sẽ thay mặt thím và các em chăm sóc cho chú. Chú đã cho đi rất nhiều yêu thương, và chú sẽ được hưởng trọng niềm hạnh phúc cuối cùng khi trở về quê cha đất tổ.
Vĩnh biệt chú – Tiến sĩ quốc gia Cộng hòa Pháp TRẦN ĐÌNH SƠN – người chú kính yêu của con!

Hiện trạng bệnh của thầy Trương Tham


Những thông số lạnh lùng trên hai chiếc máy hỗ trợ nhịp thở và đo tim mạch của thầy Tham tại phòng hồi sức cấp cứu làm mình cảm thấy lo lắng. Hỏi thăm một số người thì chủ yếu họ nói theo kiểu động viên. Lần thứ 4 vào HSCC là một cuộc chiến sinh tử. Đã có lúc thầy khỏe lên, nhưng rồi không hiểu sao sốt liên tục dẫn đến tụt huyết áp, khó thở, chân tay sưng phù. 
Không biết những thông số này nói lên được điều gì? hy vọng những chuyên gia giải thích giúp. Học trò mình Nguyễn Xuân Quang có đưa đường link của bác sĩ Hồ Hải ( http://bshohai.blogspot.com/2012/04/thay-truong-tham.html ), hy vọng sẽ có lời giải đáp.

Đây là các chỉ số tối qua, hôm nay số 23 thành 26, còn chỉ số 10.7 dao động liên tục lên 11 – 14; số 331 cũng nhảy lúc thì lên trên 450…

Còn đây là chỉ số nhịp tim hôm qua: 127, hôm nay dao động khoảng 120 – 125. Chỉ số huyết áp là 97/69 nhưng tối nay lúc thì 88/63, lúc thì 81/61. Mình chỉ biết là huyết áp hạ, nhịp tim nhanh. Còn chỉ số SPO2 không nhận được, có lẽ vì da chân tay của thầy dày, có vảy nến, vảy sừng nên không đọc được.

Còn thuốc do BS cho dùng trong hai hôm nay: thấy có seduxen, Gluco…
HÌNH ẢNH UPDATE HÀNG NGÀY BỆNH TRẠNG VÀ THEO DÕI CHỈ SỐ MÁY ĐO:

Sao không là tiếng Việt?


Trong chương trình THPT hiện hành, có một bài học nhan đề : “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà có lẽ nhiều giáo viên khi dạy đã không ý thức một cách đầy đủ nhiệm vụ của mình là “bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt Nam”.
Sẽ phải giật mình vì hiện tại nhiều học trò đến lớp 12, thậm chí cả sinh viên đại học, học viên cao học mà vẫn viết tiếng Việt chưa thông, đầy những lỗi chính tả, ngữ pháp, hành văn trong những văn bản tự tay các em soạn thảo.
Chú tôi, một người đi du học ở Pháp từ năm 1964, có 3 con gái sinh ra ở Pháp, nhưng các em con chú đều đọc thông viết thạo tiếng Việt. Bên đó không dạy chương trình tiếng Việt như một bộ môn tự chọn, với mục tiêu : “
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt ở Pháp”, nhưng các em con của chú đều yêu và tự hào với ngôn ngữ của quê cha đất tổ. Vợ chồng chú thím tôi đều là người Việt, nên các em đều nói tiếng Việt khi về nhà, dù em nào cũng nói tới 3, 4 ngoại ngữ! Tình yêu tiếng mẹ đẻ bắt nguồn từ mỗi gia đình. Bên cạnh việc chú thím tôi cho các em học tiếng Việt ở trong cộng đồng người Việt, ở nhà các em đều được chỉ bảo cặn kẽ cách dùng từ và phong cách diễn đạt Việt Nam. Chú thím là người mang hai quốc tịch, được chính phú Pháp tín nhiệm vì những cống hiến cho nước Pháp, nhưng chú luôn trăn trở việc đóng góp cho quê hương, quan tâm đến dòng tộc. Kể lể dài dòng như vậy để thấy rằng ở quốc gia được xem là cái nôi của nền văn minh châu Âu như Pháp, tình cảm yêu quý và niềm tự hào với ngôn ngữ dân tộc của cộng đồng người Việt không phải do sự can thiệp của Bộ giáo dục mà thành, mà cũng chẳng thể áp đặt lối tư duy như thời thực dân cho con em người Việt để nhận xằng “tổ tiên chúng ta là người Gô-loa”! Việc áp đặt một chương trình dạy học tiếng Hoa của Bộ Giáo dục – Đào tạo cho cộng đồng người Hoa liệu có cần thiết chăng, khi chính con em người Việt đang xa dần ngôn ngữ người Việt, thờ ơ với tiếng mẹ đẻ?
Chính những người thuộc thế hệ trước như chú tôi, mỗi khi trò chuyện với nhau thường than phiền về việc người Việt hiện nay sử dụng tiếng Việt một cách bừa bãi, không theo một chuẩn mực nào. Dượng tôi nguyên là một giáo sư Anh Văn, Pháp Văn nhưng ông cũng rất quan tâm đến việc diễn đạt tiếng Việt, đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc dùng sai qui tắc tiếng Việt và thậm chí đã soạn hẳn một bộ tài liệu về việc viết chữ Việt đúng qui tắc. Chú tôi và dượng tôi, một ông ở trời Tây, một ông ở đất Tổ, không hẹn mà gặp khi bàn luận cùng tôi, một giáo viên dạy Ngữ Văn cấp Trung học Phổ thông, đều gửi gắm ước nguyện giúp học trò nói và viết ngôn ngữ Việt đúng chuẩn. Bản thân tôi, nhiều khi tự hào về vốn liếng tiếng Việt kha khá, đã không thể phản bác trước những chứng cứ về việc dùng sai tiếng Việt ngay trên báo chí chính thống: việc dùng lẫn lộn quy/qui, Tý/Tí; chia sẻ hay san sẻ; bỏ dấu như thế nào là đúng ở chữ hòa/hoà…? Cách dùng từ tại sao lại có kiểu lẫn lộn Ta – Tàu hay kiểu ghép từ liên ba như: Ngư lưới cụ, Nông ngư cơ, phối kết hợp…? Rồi tình trạng lộn xộn trong thuật ngữ chuyên ngành ngôn ngữ: trong tiếng Anh có một loạt các thuật ngữ như giới từ, túc từ, hình dung từ, … hoàn toàn không có sự thống nhất với đơn vị từ tương đương trong tiếng Việt. Tôi toát mồ hôi vì những câu hỏi, chính vì ngay cả Bộ Giáo dục – Đào tạo cũng chưa hề có một qui chuẩn thống nhất trình qua Quốc hội để thông qua. Có những điều bản thân tôi được dạy thời đại học trong phần ngôn ngữ đại cương rằng vì phiên âm quốc tế giống nhau nên dùng quy/qui đều được… Nghĩa là có bao điều trong tiếng Việt chưa hề chuẩn mà chính chúng tôi nhiều khi dạy theo thói quen cũng dễ dàng bỏ qua. Có lúc tôi đã cố cãi trường hợp dùng từ: chia sẻ/ chia xẻ là tùy trường hợp và căn cứ vào sự phát triển ngôn ngữ Việt như một sinh ngữ thì phải chấp nhận sự phát triển và cả thói quen, trong khi cả chú và dượng tôi đều nhất trí phải dùng từ đúng là “chia xẻ”! Trong các tài liệu gần đây, tôi đã cố tìm mà chưa thấy cứ liệu nào để nói lai cho rõ!
Tiếng Việt đáng lẽ phải là ưu tiên hàng đầu và cần phải được qui chuẩn là việc nên làm lúc này của Bộ. Đã gọi là chuẩn thì từ cấp tiểu học cho đến các cấp học cao hơn, từ người dân thường đến các cơ quan truyền thông báo chí, giới văn chương học thuật cần phải tuân theo. Điều đó cần thiết hơn là biên soạn chương trình dạy tiếng của một dân tộc khác cho một cộng đồng dân tộc, trên một đất nước có tới 54 dân tộc! Tiếng Việt phổ thông chưa chuẩn, vậy tiếng dân tộc thiểu số có chuẩn chăng, mà như vậy thì làm sao
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng dân tộc đó, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người dân tộc đó ở Việt Nam? Tiếng Việt ta không chú ý giữ gìn, để phát triển tự do, theo thói quen muốn đọc sao cũng được thì gay go to! E rằng, đến một lúc bảng chữ cái tiếng Việt không đọc là : a, bờ, cờ, dờ, đờ … hay a, bê, xê, dê, đê… mà thành ay, bi, xi, đi hay lai thêm vài kiểu diễn đạt teen nX: bùn wá! Khân bít lèm seo!

Vũ Ngọc Liễn – người nặng lòng với Đào Tấn và tuồng hát bội


Trong lịch sử hát bội Việt Nam, vị hậu tổ Đào Tấn (1845 – 1907) còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ. Chỉ đến khi hội nghị nghiên cứu Đào Tấn lần thứ I (1977) thì tên tuổi cũng như sự nghiệp của ông mới thật sự được chú trọng trong giới nghiên cứu, học thuật của nền văn học cách mạng. Người tiên phong trong việc khẳng định vai trò Đào Tấn chính là thi sĩ Xuân Diệu. Trong các cuộc hội thảo lần thứ II (1982) hội thảo lần thứ III (2001) các ý kiến đánh giá về Đào Tấn, các bài tham luận của nhiều học giả đã bổ sung thêm nhiều tài liệu quý báu. Thế nhưng hầu như sau các cuộc hội thảo ấy, thành tựu chỉ nằm trong các tập kỉ yếu hội nghị. Cụ Đào Tấn không có dịp đến với công chúng cả nước. Tại hội thảo lần thứ III, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã đặt vấn đề tập hợp công bố di cảo đồ sộ của Đào Tấn cũng như các kết quả nghiên cứu ban đầu, với dự định sẽ phải hơn nghìn trang viết. Nhưng rồi, không ai đủ kinh nghiệm, công sức cũng như niềm đam mê theo đuổi đến cùng việc nghiên cứu Đào Tấn như Vũ Ngọc Liễn. Vậy là vị lão tướng đã xấp xỉ bát tuần lại dồn hết tâm sức để làm một việc tưởng chừng như không tưởng, thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước để làm nên bộ công trình đồ sộ ba tập: Đào Tấn Thơ và Từ (in 2003), Đào Tấn Tuồng hát bội (in 2005) và Đào Tấn qua thư tịch (in 2006). Ròng rã bốn năm trời, khi bộ sách hoàn thành cũng là lúc ông nâng ly mừng thọ 82 tuổi!

vnl
Cảm động biết bao nhiêu công việc thầm lặng mà đầy ý nghĩa này. Cảm động biết bao nhiêu những lời tác giả ghi sau của cuốn sách, với sự khiêm tốn nhận lỗi sai sót trong quá trình biên khảo và lời tri ân : “Nhân dịp bộ sách Đào Tấn hoàn tất việc in ấn tôi xin ghi ơn những người đã có công đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công trình nghiên cứu danh nhân Đào Tấn bao năm qua, trong số ấy nhiều người đã quá cố như anh Xuân Diệu, Hồ Đắc Bích, cụ Mạc Như Tòng, cụ Tống Phước Phổ, anh Đỗ Văn Hỷ… Tôi đặc biệt cảm ơn hai ông bạn vong niên Bùi Lợi và Mạc Côn đã cùng tôi lăn lộn sưu tầm tài liệu về Đào Tấn suốt thời gian dài. Cảm ơn cô Kim Hưng (Nhà xuất bản Văn học) đã giúp tôi chăm sóc bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu ở Nhà Xuất bản Văn Học (1987). Cảm ơn ông bạn Nguyễn Thanh Hiện đã cùng tôi vật lộn với chữ nghĩa làm bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu. Cảm ơn Ty Văn Hóa – Thông Tin Nghĩa Bình trước đây và Sở Văn Hóa Thông Tin Bình Định hiện nay luôn cổ vũ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu về Đào Tấn. Cảm ơn Nhà xuất bản Sân khấu của hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam luôn đôn đốc và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn tất công tác biên khảo bộ sách này” (Ghi sau – Đào Tấn qua Thư tịch). Chúng ta hãy hiểu niềm cảm động biết ơn của một nhà nghiên cứu tuổi 82, đã không hề quên công những người đã giúp ông có dũng khí, niềm tin và sức lực cho một bộ ba tác phẩm đồ sộ về Đào Tấn. 
Điều đáng nói là sau khi công trình này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu, các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quy Nhơn, Đại học KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh đã có thể có một cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về Đào Tấn, tiếp tục khai thác để cho sự nghiệp của danh nhân Đào Tấn thật sự hoàn thiện trong mắt mọi người. Đã bắt đầu có nhiều luận văn thạc sĩ ở Hà Nội, Quy nhơn, TP. Hồ Chí Minh có điều kiện khai thác sâu hơn về Đào Tấn, nhờ những tư liệu quý từ bộ sách. Nhiều sinh viên trẻ đã tìm đến với Vũ tiên sinh để cùng nhau nói về tuồng hát bội, về thơ và từ Đào Tấn, tham khảo những ý kiến của một người tuổi tác đáng cụ, đáng ông nhưng tấm lòng với Đào Tấn vẫn sôi sục nhiệt thành như tuổi đôi mươi. Đáng nể hơn là họ vẫn thấy ông cặm cụi biên soạn các công trình mới, phổ cập đến đại chúng những tài liệu vốn dĩ thường được lưu trong dòng tộc như gia bảo rồi dần dần mai một! Lần lượt những tài liệu “Chầu Đôi” (Trúc Tôn Phạm Phú Tiết) được chỉnh sửa hoàn thiện, “Góp nhặt dọc đường”, “Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ” của ông ra đời và được đón nhận nồng nhiệt. Đó là cái Tâm với tuồng, với cả bậc thầy của hậu tổ Đào Tấn, tấm lòng dành cho bậc cha chú đã dìu dắt ông vào nghề. Một con người như vậy, thật đáng kính. Có lẽ cũng chính từ tình yêu không mệt mỏi với nghệ thuật tuồng đã giúp ông vượt lên cả trận đột quị tai biến để hoàn thành tâm nguyện biên khảo về Nguyễn Diêu – thầy của hậu tổ hát bội Đào Tấn vào năm 2011 vừa qua.
nd
Một con người lao động bền bỉ, chỉ với một tâm nguyện đưa tên tuổi Đào Tấn, đưa nghệ thuật tuồng đến với công chúng hôm nay xứng đáng được ghi nhận công lao. Và biết bao người làm văn hóa nghệ thuật đã phải kính phục con người vượt lên chính mình, luôn học hỏi rèn luyện cầu thị để trở thành một nhà nghiên cứu tuồng hàng đầu Việt Nam. Không những thế, con người ấy luôn tỏ rõ sĩ khí trước những hành vi làm vấy bẩn bầu không khí văn chương, thẳng thắn lên tiếng trước những điều sai trái. Đáng trân trọng thay!
Vĩ thanh: vậy mà từ khi bộ ba công trình về Đào Tấn cùng với “Góp nhặt dọc đường” của tác giả Vũ Ngọc Liễn được đề cử giải thưởng Nhà nước như một ghi nhận công lao của người bền bỉ phấn đấu vì sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng hát bội, người góp phần không nhỏ đem Đào Tấn đến với công chúng thế hệ sau, đã có một số kẻ không  khỏi hận thù. Một vài bài báo trên những tờ chẳng liên quan gì đến văn chương học thuật như “Tài nguyên và Môi trường” và gần đây là báo “Tiền Phong” đã cho đăng những bài thóa mạ, vu cáo, xuyên tạc, xúc phạm tên tuổi của Vũ Ngọc Liễn, mà tên tuổi của người viết khiến người đọc ngơ ngác chẳng biết họ là ai! Rồi một vài trang mạng đăng lại, có những trang đăng hàng chục còm-men với lời lẽ đầy thù hận, hằn học mà không một lần dám chính danh. Tất cả những thông tin ấy đến tai anh em văn nghệ sĩ Bình Định, nhiều người nổi giận muốn tìm ra chân tướng những kẻ nặc danh ti tiện. Đã quá cũ rồi cái trò tung hỏa mù để tạo dư luận hòng cho hội đồng xét giải thưởng Nhà nước gác lại công trình của tác giả “có vấn đề”! Những luồng gió độc lởn vởn ấy có làm cho nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn bận tâm chăng? Gặp ông định hỏi, nhưng Vũ Tiên sinh dường như không chút bận lòng. Ông lại say sưa với ý định viết về Xuân Diệu, tìm hiểu về những người bạn văn tuyệt vời của Bàn Thành Tứ Hữu…
23.2.2012
TRẦN HÀ NAM 
hb 

TẾT


 


Sáng nay cho một đề luyện tập mở cho lớp Văn, vỏn vẹn một chữ: Tết!

Mới thấy ý niệm về Tết thật là ít ỏi đối với học trò. Chợt nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư thời của cha, dạy cho học trò từng ly từng tí về lễ nghĩa đạo đức cần phải có. Những bài học cho tuổi thơ thật trong trẻo và gần gũi với đời sống.

Có vẻ như giáo dục hiện nay ở môn Văn không chú trọng bồi đắp nền tảng văn hóa cho học trò một cách nhẹ nhàng mưa dầm thấm lâu mà thiên về áp đặt khuôn mẫu…


Tết là gì?
Tôi nhớ ngày tôi còn nhỏ, háo hức mỗi khi Tết đến, khoảng 27 – 28 tháng Chạp là “canh me” chỉ để được nhảy qua xóm bên ngồi túm tụm cùng mấy đứa bạn xóm “trường Đảng” ngồi coi nồi bánh chưng. Hồi mẹ còn ở ngoài Bắc chưa về, cha về quê bỏ lại một mình trông nhà, vắng vẻ thấy mà phát sợ. 
Ngày Tết, cũng thích đi qua nhà cô sát bên cạnh để dện bánh in, hồi ông nội còn sống thương thằng cháu, mà thằng cháu thì nghịch ngầm và hoang lung. Để bây giờ tiếc vì được học ông nội quá ít: vừa nhận mặt được mấy quẻ bát quái – kiền tam liên, khảm trung mã, cấn phúc quyển, chấn ngưỡng bồn, tốn hạ đoạn, ly trung hư, đoài thượng khuyết. Thêm vào đó là hai câu đối treo ở phòng ông: Lan quế đằng phương xuân vị ngại – Đấu thăng đãi dưỡng nhật do trường. Là hết! Ngày Tết, ông nội cũng lì xì cho thằng cháu ít đồng lẻ, sung sướng lắm! Hồi đó, còn nhớ cô Dư lì xì nhiều nhất, mà có lẽ hồi nhỏ mình hay qua chơi bên nhà cô, vì bếp ăn tập thể công đoàn tỉnh hồi đó gần nhà cô… Tết thích nhất là lì xì, mà chẳng biết tiêu gì, ra hội chợ chơi lô tô, chơi trò chơi hết sạch! Năm nào cũng mang về ít bộ ly, có lần trúng lô tô được cái lốp xe (đáng lẽ được khung xe nhưng do chơi lần đầu, lúc người ta hô “kinh!”, mình mới hỏi người bên cạnh, lật đật hô “kinh!” – thế là giải chia đôi! Thắng chả bù thua, tại hồi đó ham chơi bầu cua tôm cá mãi đến hết cấp 2 thì mới thề không thèm chơi nữa, mới biết để dành tiền! Mà hết tiền đâm ra láu cá, lại nhớ coi có bác, có thím nào chưa thăm, tới nhà chơi, chúc Tết rôm rà, để … nhận tiền lì xì ra ngồi sòng tiếp!!! Thành thử lại được khen là…ngoan, lễ phép, biết thăm và chúc Tết bà con, dù không có cha mẹ đi kèm! Thế là sau này lớn lên, năm nào cũng được nhắc đi thăm người này người kia! Hì, cũng là để chuộc tội láu cá hồi nhỏ.
Tết, hồi nhỏ được kèm cặp đánh đồ đồng bằng chanh và tro bếp rây mịn, năm nào cũng đánh, thành chuyên gia! Trước 23 thường về quê đi chạp mả. Riết rồi quen, năm nào không đi cảm thấy thiếu thiếu! Hai anh em được ông nội dạy cúng, nhưng có lẽ do mình vào trước 3 năm, ở gần ông nội nên cúng quen hơn, còn ông anh thì lạy như bửa củi! (Hì, bây giờ bác làm trưởng nam nên thành chuyên gia đại diện gia đình đi cúng giỗ, cũng là để bù!!!). Mình học cúng bài bản, được ông nội khen, thích lắm! Ba bái bốn lạy, đúng kiểu nhất bộ nhất bái! Mà lòng tay cúng ông bà thì úp xuống, không ngửa ra như lễ Phật! Ngày Tết thì 30 cúng rước, mồng 3 cúng đưa, có đi chơi đi thăm ai cũng phải nhớ mà về làm đủ lễ nghĩa! Bày mâm cúng thì khỏi nói, ông nội coi bày không đúng phép tắc thì chỉnh từng li từng tí! Dịp Tết năm ngoái, lên lễ đền Tây Sơn, mình mới được biết thêm: lạy vua 5 lạy. Trước đó chỉ biết lạy Phật 3 lạy, lạy ông bà 4 lạy, lạy linh sàng 2 lạy!!!
Tết khi mẹ vào Nam từ năm 1979 thì còn sướng là được ăn thịt kho Tàu ăm ắp, thịt nấu măng khô, bánh chưng mẹ gói. Ngon ơi là ngon! Mẹ nấu món Tết ngon lắm, đi chơi đâu về lăn vào kiếm cái bánh chưng, hay cuốn bánh tráng đổ chả kèm rau sống là sung sướng cuộc đời! Sau mẹ truyền nghề cho con dâu, ăn mấy món khoái khẩu ngày Tết, lại rưng rưng nhớ mẹ…
Hồi còn ở với mẹ, năm nào giao thừa cũng thức đốt pháo cho đến khi Nhà nước cấm pháo, chả bù hồi trước, có lần giao thừa mình lang thang ngoài đường lượm pháo, về tha thẩn ngồi trước nhà, lôi từng viên pháo mót ra đốt mà ứa nước mắt! Sau này kể lại cho mẹ nghe, mẹ cũng khóc ứa nước mắt. Biết làm sao, cha năm nào cũng phải về quê, không có mẹ, có anh,, thui thủi chả khác mồ côi, sao mà không chạnh lòng! Có mẹ, có anh, khi cha về quê thì mấy mẹ con quây quần bên ấm trà, quả bánh, lúc lớn hơn lại có hẳn ly rượu mừng, mẹ con chúc nhau sau giao thừa thật vui! Đến khi có vợ ra ở riêng, sau giao thừa lại có niềm vui gọi điện chúc Tết cha,  mẹ và bà con phía ngoại (vì quê nội thường ít ai thức đến giờ đó đón giao thừa, buồn hiu!). 
Mồng 1 thường mấy anh em về quê sớm, đi thăm Từ đường lớn, từ đường các phái, uống chén rượu xuân, hỏi thăm chúc Tết bà con. Lớn lên, có gia đình vẫn giữ được lệ này. Mấy cu con nhà mình nhìn chung chưa được giáo dục đầy đủ và nghiêm ngặt như ba nó, nên bây giờ lớn rồi mà vẫn cứ lộc ngộc, lơ ngơ chả biết ai với ai. 
Lễ nghĩa ngày Tết nhiều khi phiền toái, nhưng ngẫm kĩ lại hay, vì nối kết được tình gia đình, tộc họ, quê hương. Tết thời nay nhạt đi nhiều phần lễ mà chú trọng nhiều phần hội, chơi là chính ăn là phụ, tình tộc họ cũng nhạt đi nhiều, trẻ con ít thích về quê hay có về phần nhiều cũng lơ ngơ!
Cho một đề Văn, mà tự dưng có bao điều để nhớ lại, cũng hay! Thấm thoắt mà đón Tết ở quê nội Bình Định đã 35 năm rồi! Bây giờ, đâm ra hoài cổ như một ông già… Học trò nghe dăm chuyện Tết mình kể, cứ như là nghe chuyện ngày xửa ngày xưa!
 Ừ, ngày xửa ngày xưa, Tết là…
27 tháng Chạp Tân Mão
Trần Hà Nam

Tản mạn về phong cách nhà văn – Hàn Mặc Tử



Phong cách nhà văn, được hiểu theo một công thức quen thuộc: phong cách xét từ hai mặt nội dung và hình thức. Nội dung bao hàm ba phương diện: cách nhìn – cách cảm – cách đánh giá. Hình thức xét ở hai mặt: cách lựa chọn và cách thể hiện. Nhà văn có phong cách tức là các mặt biểu hiện trên phải độc đáo, sáng tạo, mang dấu ấn cá tính riêng biệt. Cơ sở hình thành nên một phong cách nhà văn là yếu tố dân tộc – lịch sử – thời đại ; đồng thời còn là những nét riêng trong đời tư, các nhân tố gia đình, dòng tộc, quê hương… Tất cả những điều này chi phối, định hướng việc tìm hiểu phong cách tác giả trong văn học nhà trường, thành nếp tư duy quen thuộc và ít nhiều làm mất cảm hứng sáng tạo trong cảm nhận nét hấp dẫn, sức sống tác phẩm toát lên từ phong cách nhà văn. Trên trang riêng này, thử một lần thoát khỏi tư duy nhà giáo để làm một người cảm thụ thuần túy xem sao!


Trong số các nhà văn nhà thơ, có lẽ ấn tượng nhất với tôi là Hàn Mặc Tử. Từ những ngày xưa khi còn là học trò, đã ám ảnh bởi những câu thơ Hàn:
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Để rồi đến khi thành sinh viên, năm 1987, niềm vui lớn lao chính là khi mua được quyển “Thơ Hàn Mặc Tử”. Đến lúc đó, mới thật sự làm một hành trình đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử trong thơ. Nhưng điều khiến tôi nhớ về Hàn, hình dung về Hàn có phần nào ảnh hưởng từ Chế Lan Viên, trong bài tựa “Hàn Mặc Tử, anh là ai”: “Bây giờ thì Hàn Mặc Tử nằm đây, trên điểm cao Gành Ráng này, đối diện với bể Đông. Bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời Anh”. Chế quả thật là một trong những tri âm của Hàn, khi hai con người cùng “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” từ thuở cùng là chủ soái của “trường thơ Loạn”, cùng tự nhận mình là điên, là say, là người mơ, người thơ… Kể cả khi thơ lãng mạn trong nhà trường bị xem là “bạc nhược, suy đồi” thì Chế vẫn mượn lời Hàn đề từ cho bài thơ của mình: “Người Thơ phong vận như Thơ ấy”. Mới thấy, lời quả quyết của hơn 40 năm trước của Chế cùng lời tựa năm 1987 nhất quán một cách đánh giá: “Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử”. Dẫu cho trong thời điểm 1987, bài viết của Chế Lan Viên còn nhiều phen phải đóng vai trò thầy cãi để chứng minh sự trở lại xứng đáng trên văn đàn Việt Nam của Hàn. Cũng phải thôi, vì văn học Việt Nam đến thời điểm đó mới bừng tỉnh và đang dè dặt những bước chân trên hành trình đổi mới. Việc quy chụp quan điểm, khắt khe với dòng văn học trước cách mạng vẫn còn nặng nề. Bài viết mang tính “định hướng” cách tiếp cận Hàn Mặc Tử phần nào chi phối cảm xúc, nhưng khi đọc hết tập thơ, người viết bài này đã hoàn toàn bị hút vào không gian thơ Hàn Mặc Tử, không phải bằng cảm giác của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam khi lạc bước vào một vườn thơ “rộng rinh và ớn lạnh” mà bằng tất cả sự trong trẻo của một tâm hồn mê đắm văn chương một cách trong trẻo và thánh thiện của một sinh viên khoa Văn.
Có thể bây giờ, khi đã qua tuổi 40, lòng không còn trinh bạch như buổi đầu lưu luyến ấy, nhưng Hàn vẫn có một sức hút, nỗi ám ảnh dị thường.
Một Hàn Mặc Tử đã sống trong thơ “bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn”, sống một cách “mãnh liệt và đầy đủ”, sống bằng cách “phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu”, “đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống”. Phát biểu của chính Hàn Mặc Tử là quan niệm thơ thành thực bậc nhất, chính xác đến từng câu chữ, hình ảnh, giọng điệu trong sáng tác của Hàn. Người Thơ ấy chỉ sống trên dương thế 28 năm, nhưng sức sống từ thơ Hàn đã vượt qua mọi giới hạn thời gian. Thiết nghĩ Hàn mới chính là người đã đẩy Thơ Mới đi đến tận cùng hành trình hiện đại hóa, một cách hết sức tự nhiên bằng bản năng thi nhân của Hàn.
Chu Văn Sơn có lí khi gọi thi pháp của Hàn là “Thi học của cái tột cùng”. Nhưng tôi hoàn toàn không thích cái cách tiếp cận Hàn bằng lối hàn lâm kinh viện của anh, ngồn ngộn kiến thức, uyên bác thật đấy, nhưng đọc xong rồi cảm thấy ngờ ngợ vì dường như đó không phải là Hàn của mình, Hàn như mình hình dung và yêu mến! Dù cho luận thuyết của anh về Hàn cũng có những lúc gật gù tâm đắc “Thế là đau thương! Thế mới đau thương!” khi khảo sát về tập Đau thương – tức Thơ Điên của Hàn, nhiều người gật gù theo nhưng riêng tôi không cảm được! Cũng đành, biết sao!
Hàn Mặc Tử, với tôi, là người đem đến cho thơ cái rụt rè buổi đầu trinh bạch trong tình yêu, với những cảm giác sống động cựa quậy trong từng câu chữ:
“Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Dám ôm hồn Cúc ở trong sương”

Trạng thái “tình trong như đã mặt ngoài còn e” từ thời Nguyễn Du phải đến Hàn mới thật sự đốt thiêu tâm hồn bằng ngọn lửa tình ngùn ngụt nhưng lại che đậy bằng dáng vẻ bên ngoài “bẽn lẽn” ngượng ngập của người “gái quê” chân chất:
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em

Chân dung Gái quê cũng là chân dung của Hàn trong khoảnh khắc đầu tiên đặt chân trên con đường cách tân để làm một hành trình thơ mới thoát thai khỏi cách nhìn cũ, cảm nhận cũ. Hồn xưa Lý Bạch vẫn còn đó trong làn gió Đường thi của bài Xuân Tứ, nhưng lại rất phương Tây trong nụ hôn làm hồng đôi má giai nhân! Lại thêm cái tươi mát của ca dao dân Việt gợi cảm với lối xưng “em” rất nữ tính, gợi về vẻ đẹp “Thân em như chẽn lúa đòng đòng – Phất phơ dưới ngọn nắng hồng sớm mai”. Nghĩa là Hàn không đi tìm cái mới trong việc miệt mài tìm tứ lạ, “khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen” như Xuân Diệu mà chủ động tìm một lối của riêng mình. Hàn đã thật ngạo nghễ khi phê phán Baudelaire bùng nhùng giữa dục tính và tình cảm, trong lá thư gửi người bạn thơ Hoàng Trọng Miên để tuyên ngôn quan niệm thơ của mình.
Chọn con đường này, Hàn đã phát huy sức sáng tạo bùng nổ của mình trong những bài thơ tuyệt tác của tập Đau thương. Có lẽ trong cuộc so tài để chứng tỏ cái ngạo khí thi sĩ phương Đông với tác giả Hoa Ác – nhà thơ Baudelaire, Hàn đã phải đối diện với tư cách con chiên của Chúa, vượt qua lời nguyền thành “thi sĩ của đội quân Thánh giá”, nên đã có lúc Hàn nguyện với lòng sẽ đốt tập Thơ Điên để giữ trọn “Sự trong sạch của tâm hồn” trước khi về nước Chúa chăng? May thay, những người bạn đã làm trái di nguyện của Hàn, để cho bao thế hệ sững sờ với những câu thơ có sức quyến rũ ma mị, đôi khi chỉ cảm mà không cần thiết hiểu. Vả chăng, Hàn cũng đã sám hối trong thơ rồi còn gì, bằng tất cả sự tôn sùng dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh và Thiên Chúa:
Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng

Có thể qua từng chặng Đau thương : Hương thơm – Mật đắng – Máu cuồng và Hồn điên ta chứng kiến một tâm hồn nhỏ máu vì bị tách ra khỏi cuộc đời yêu thương bởi căn bệnh quái ác, bị cách ly bởi những thành kiến nghiệt ngã của người đời. Nhưng hạnh phúc biết bao khi Hàn nhận phần đau thương bỏng rát về mình, để đem cho Đời “những dòng thơ rất mát”.
Hỡi những ai đọc Hàn, hãy đừng quá chú tâm vào tài năng thơ có thể làm nên những bài đọc xuôi, đọc ngược theo 6 cách như “Cửa sổ đêm khuya” mà hãy lắng nghe tiếng lòng của Hàn đau đáu vọng vang trong từng câu chữ:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Chẳng có niềm trăng và ý nhạc
Có nàng cung nữ nhớ thương vua

Khúc cung oán sầu hận ấy là lòng đau của chính Hàn, nhập vào nỗi niềm cung nữ. Đâu phải là nỗi cô đơn thi sĩ làm dáng mà là nỗi đau thực sự của một Con Người. Con Người ấy đã từng yêu biết bao nhiêu Mùa Xuân Chín:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây

(…)
Có mùa xuân nào tình tứ và ý nhị thế chăng? Hình ảnh mùa xuân tươi tắn non tơ như tâm hồn thi sĩ dạt dào bao cảm xúc lãng mạn. Có nét tương đồng giữa Hàn Mặc Tử và Lưu Trọng Lư trong cách cảm nhận Hương thơm của tình yêu với vẻ rụt rè như chàng trai mơ mộng hóa thân thành “khách xa”, chiêm ngưỡng bức tranh non tơ của thiên nhiên, lắng nghe âm thanh trong vắt của “bao cô thôn nữ”. Cứ xa xa mà ngắm, vậy mà đã rạo rực xuân tình trong cảm giác rất mãnh liệt vang lên thành tiếng, hiện ra thành hình: sột soạt, vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ… để cho lòng chàng dậy lên một nỗi “bâng khuâng” giấu mình trong hoài niệm.
Thế giới của Hàn sáng láng nguồn cảm xúc, linh động những cảm xúc trong một không gian luôn cựa quậy câu chữ hình ảnh, ngay cả trong những lúc tưởng như tĩnh lặng, lắng đọng nhất. Ảo và Thực như trộn hòa, không cần phải cố gắng dụng công trong ngữ âm, trong điệp từ. Với Hàn, làm thơ là để cho cảm xúc cứ thế bật lên thành lời, thành nhạc:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng…
Hàn Mặc Tử gọi Trăng như chú mục đồng gọi nghé, để trăng hiện lên thật lung linh, huyền hồ, ma mị, bỡn cợt, trêu ngươi, rã rượi trong tuyệt vọng nhưng cũng khắc khoải bao khát vọng. Hàn có cả một Bến sông Trăng để thỏa thuê lặn ngụp, biến hóa, trửng giỡn, đê mê.
Ha ha! Ta đuổi theo trăng, ta đuổi theo trăng
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng…
– Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng…
– Một miệng ta trăng là trăng
Lòng ta là vô số gái hồng nhan…
– Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu r
a

Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Chẳng có một nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

Chợt nhớ một kỉ niệm cùng Nguyễn Mạnh Quân – người bạn thân hồi còn là sinh viên điêu khắc, là người Quy Nhơn nên chọn đề tài là tượng Hàn Mặc Tử. Cả hai đã cùng lang thang trong Quy Hòa, đã nghiền ngẫm lại tập thơ của Hàn cả hàng mấy tháng trời, đã băn khoăn đi tìm một biểu tượng về Hàn: hoa cúc hay là trăng? Để rồi, bức tượng gỗ mít tạc chân dung Hàn Mặc Tử của Quân đã được chấm điểm cao tuyệt đối và được giữ lại trưng bày ở khoa Điêu khắc trường Mỹ Thuật Huế. Bức tượng bán thân được tạc cách điệu, với khuôn ngực Hàn là một khối âm mang hình vầng trăng khuyết. Vầng trăng đã được anh bạn chọn như là linh hồn, sự sống của Hàn, đã chinh phục những giám khảo điêu khắc khó tính nhất. Tôi chỉ được xem bức ảnh chụp bài thi đã rùng mình, bởi chợt nhớ câu thơ Hàn:
Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột

Vầng trăng – một nửa ấy là một cảm nhận hoàn toàn khác với “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” của Nguyễn Du, nhưng lại giống lạ kì ở phẩm chất của những kẻ trót sinh ra cùng một “nòi tình”! Nửa trăng của Hàn “ai cắn vỡ” đã hiện hữu như một biểu tượng đau thương của một hồn thơ luôn khao khát hòa nhập giữa cuộc đời:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Thần thái của thơ Hàn là từ vầng trăng đợi chờ, vầng trăng đau thương một nửa kia. Để thành thơ, thành tình người vô lượng:
Tôi ước ao là tôi ước ao
Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
Như bông trăng nở, bông trăng nở
Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

Vầng trăng khuyết ấy, trái tim đau ấy đang phiêu du ở một chốn nào, đang “chơi giữa mùa trăng” liệu có kịp về với bến sông Trăng?
2.12.2011
TRẦN HÀ NAM

Con đi học tròn một tháng


Hôm nay là 27 tháng 9 năm 2011, tròn một tháng con trai lớn đi học trường Ngoại Thương thành phố Hồ Chí Minh.
Khi con ở nhà, hay bị ba la vì bừa bãi lộn xộn. Bây giờ, vào ở trọ, cũng đã có tiến bộ hơn. Nhưng tất cả mới chỉ là khởi đầu, còn rất nhiều việc phải lo trong tương lai. Con được vào lớp Cử nhân Chất lượng cao, nghe giảng bằng tiếng Anh, mai mốt có điều kiện hơn trong công việc, giao tiếp.
Mới vào Sài Gòn, con đã đi khắp nơi để cho biết đường, thể hiện được tính năng động, thích nghi nhanh. Nhưng cần phải cảnh giác hơn với những trò lừa tinh quái của dân giang hồ. Tính con hồn nhiên, dễ bắt chuyện, đã bị gặp ngay đám cò mồi dụ dỗ làm trai bao!!! Nghe con kể lại, với giọng sửng sốt, mình chỉ cười và lo con sẽ còn gặp nhiều chiêu thức tinh vi hơn. Mình biết tính con, nên khoản này có thể yên tâm.
Trong đó, con thỉnh thoảng tới thăm bà con. Có lẽ giờ này ăn cơm bụi hoài, cu con cũng ngán nên thèm không khí gia đình. Giống mình ngày xưa, nhào vào nội trú để rèn luyện tính tự lập, cuối tuần lại mò về nhà ăn cơm mẹ nấu. Chỉ có điều cu con học xa, thiệt thòi hơn, chỉ về vào dịp hè, dịp Tết.
Môi trường Đại học sẽ giúp con trưởng thành hơn, đúng với lứa tuổi của mình. Mong con mau tiến bộ và càng chững chạc hơn.