Vũ Ngọc Liễn – người nặng lòng với Đào Tấn và tuồng hát bội


Trong lịch sử hát bội Việt Nam, vị hậu tổ Đào Tấn (1845 – 1907) còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ. Chỉ đến khi hội nghị nghiên cứu Đào Tấn lần thứ I (1977) thì tên tuổi cũng như sự nghiệp của ông mới thật sự được chú trọng trong giới nghiên cứu, học thuật của nền văn học cách mạng. Người tiên phong trong việc khẳng định vai trò Đào Tấn chính là thi sĩ Xuân Diệu. Trong các cuộc hội thảo lần thứ II (1982) hội thảo lần thứ III (2001) các ý kiến đánh giá về Đào Tấn, các bài tham luận của nhiều học giả đã bổ sung thêm nhiều tài liệu quý báu. Thế nhưng hầu như sau các cuộc hội thảo ấy, thành tựu chỉ nằm trong các tập kỉ yếu hội nghị. Cụ Đào Tấn không có dịp đến với công chúng cả nước. Tại hội thảo lần thứ III, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã đặt vấn đề tập hợp công bố di cảo đồ sộ của Đào Tấn cũng như các kết quả nghiên cứu ban đầu, với dự định sẽ phải hơn nghìn trang viết. Nhưng rồi, không ai đủ kinh nghiệm, công sức cũng như niềm đam mê theo đuổi đến cùng việc nghiên cứu Đào Tấn như Vũ Ngọc Liễn. Vậy là vị lão tướng đã xấp xỉ bát tuần lại dồn hết tâm sức để làm một việc tưởng chừng như không tưởng, thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước để làm nên bộ công trình đồ sộ ba tập: Đào Tấn Thơ và Từ (in 2003), Đào Tấn Tuồng hát bội (in 2005) và Đào Tấn qua thư tịch (in 2006). Ròng rã bốn năm trời, khi bộ sách hoàn thành cũng là lúc ông nâng ly mừng thọ 82 tuổi!

vnl
Cảm động biết bao nhiêu công việc thầm lặng mà đầy ý nghĩa này. Cảm động biết bao nhiêu những lời tác giả ghi sau của cuốn sách, với sự khiêm tốn nhận lỗi sai sót trong quá trình biên khảo và lời tri ân : “Nhân dịp bộ sách Đào Tấn hoàn tất việc in ấn tôi xin ghi ơn những người đã có công đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công trình nghiên cứu danh nhân Đào Tấn bao năm qua, trong số ấy nhiều người đã quá cố như anh Xuân Diệu, Hồ Đắc Bích, cụ Mạc Như Tòng, cụ Tống Phước Phổ, anh Đỗ Văn Hỷ… Tôi đặc biệt cảm ơn hai ông bạn vong niên Bùi Lợi và Mạc Côn đã cùng tôi lăn lộn sưu tầm tài liệu về Đào Tấn suốt thời gian dài. Cảm ơn cô Kim Hưng (Nhà xuất bản Văn học) đã giúp tôi chăm sóc bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu ở Nhà Xuất bản Văn Học (1987). Cảm ơn ông bạn Nguyễn Thanh Hiện đã cùng tôi vật lộn với chữ nghĩa làm bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu. Cảm ơn Ty Văn Hóa – Thông Tin Nghĩa Bình trước đây và Sở Văn Hóa Thông Tin Bình Định hiện nay luôn cổ vũ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu về Đào Tấn. Cảm ơn Nhà xuất bản Sân khấu của hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam luôn đôn đốc và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn tất công tác biên khảo bộ sách này” (Ghi sau – Đào Tấn qua Thư tịch). Chúng ta hãy hiểu niềm cảm động biết ơn của một nhà nghiên cứu tuổi 82, đã không hề quên công những người đã giúp ông có dũng khí, niềm tin và sức lực cho một bộ ba tác phẩm đồ sộ về Đào Tấn. 
Điều đáng nói là sau khi công trình này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu, các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quy Nhơn, Đại học KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh đã có thể có một cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về Đào Tấn, tiếp tục khai thác để cho sự nghiệp của danh nhân Đào Tấn thật sự hoàn thiện trong mắt mọi người. Đã bắt đầu có nhiều luận văn thạc sĩ ở Hà Nội, Quy nhơn, TP. Hồ Chí Minh có điều kiện khai thác sâu hơn về Đào Tấn, nhờ những tư liệu quý từ bộ sách. Nhiều sinh viên trẻ đã tìm đến với Vũ tiên sinh để cùng nhau nói về tuồng hát bội, về thơ và từ Đào Tấn, tham khảo những ý kiến của một người tuổi tác đáng cụ, đáng ông nhưng tấm lòng với Đào Tấn vẫn sôi sục nhiệt thành như tuổi đôi mươi. Đáng nể hơn là họ vẫn thấy ông cặm cụi biên soạn các công trình mới, phổ cập đến đại chúng những tài liệu vốn dĩ thường được lưu trong dòng tộc như gia bảo rồi dần dần mai một! Lần lượt những tài liệu “Chầu Đôi” (Trúc Tôn Phạm Phú Tiết) được chỉnh sửa hoàn thiện, “Góp nhặt dọc đường”, “Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ” của ông ra đời và được đón nhận nồng nhiệt. Đó là cái Tâm với tuồng, với cả bậc thầy của hậu tổ Đào Tấn, tấm lòng dành cho bậc cha chú đã dìu dắt ông vào nghề. Một con người như vậy, thật đáng kính. Có lẽ cũng chính từ tình yêu không mệt mỏi với nghệ thuật tuồng đã giúp ông vượt lên cả trận đột quị tai biến để hoàn thành tâm nguyện biên khảo về Nguyễn Diêu – thầy của hậu tổ hát bội Đào Tấn vào năm 2011 vừa qua.
nd
Một con người lao động bền bỉ, chỉ với một tâm nguyện đưa tên tuổi Đào Tấn, đưa nghệ thuật tuồng đến với công chúng hôm nay xứng đáng được ghi nhận công lao. Và biết bao người làm văn hóa nghệ thuật đã phải kính phục con người vượt lên chính mình, luôn học hỏi rèn luyện cầu thị để trở thành một nhà nghiên cứu tuồng hàng đầu Việt Nam. Không những thế, con người ấy luôn tỏ rõ sĩ khí trước những hành vi làm vấy bẩn bầu không khí văn chương, thẳng thắn lên tiếng trước những điều sai trái. Đáng trân trọng thay!
Vĩ thanh: vậy mà từ khi bộ ba công trình về Đào Tấn cùng với “Góp nhặt dọc đường” của tác giả Vũ Ngọc Liễn được đề cử giải thưởng Nhà nước như một ghi nhận công lao của người bền bỉ phấn đấu vì sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng hát bội, người góp phần không nhỏ đem Đào Tấn đến với công chúng thế hệ sau, đã có một số kẻ không  khỏi hận thù. Một vài bài báo trên những tờ chẳng liên quan gì đến văn chương học thuật như “Tài nguyên và Môi trường” và gần đây là báo “Tiền Phong” đã cho đăng những bài thóa mạ, vu cáo, xuyên tạc, xúc phạm tên tuổi của Vũ Ngọc Liễn, mà tên tuổi của người viết khiến người đọc ngơ ngác chẳng biết họ là ai! Rồi một vài trang mạng đăng lại, có những trang đăng hàng chục còm-men với lời lẽ đầy thù hận, hằn học mà không một lần dám chính danh. Tất cả những thông tin ấy đến tai anh em văn nghệ sĩ Bình Định, nhiều người nổi giận muốn tìm ra chân tướng những kẻ nặc danh ti tiện. Đã quá cũ rồi cái trò tung hỏa mù để tạo dư luận hòng cho hội đồng xét giải thưởng Nhà nước gác lại công trình của tác giả “có vấn đề”! Những luồng gió độc lởn vởn ấy có làm cho nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn bận tâm chăng? Gặp ông định hỏi, nhưng Vũ Tiên sinh dường như không chút bận lòng. Ông lại say sưa với ý định viết về Xuân Diệu, tìm hiểu về những người bạn văn tuyệt vời của Bàn Thành Tứ Hữu…
23.2.2012
TRẦN HÀ NAM 
hb 

TẾT


 


Sáng nay cho một đề luyện tập mở cho lớp Văn, vỏn vẹn một chữ: Tết!

Mới thấy ý niệm về Tết thật là ít ỏi đối với học trò. Chợt nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư thời của cha, dạy cho học trò từng ly từng tí về lễ nghĩa đạo đức cần phải có. Những bài học cho tuổi thơ thật trong trẻo và gần gũi với đời sống.

Có vẻ như giáo dục hiện nay ở môn Văn không chú trọng bồi đắp nền tảng văn hóa cho học trò một cách nhẹ nhàng mưa dầm thấm lâu mà thiên về áp đặt khuôn mẫu…


Tết là gì?
Tôi nhớ ngày tôi còn nhỏ, háo hức mỗi khi Tết đến, khoảng 27 – 28 tháng Chạp là “canh me” chỉ để được nhảy qua xóm bên ngồi túm tụm cùng mấy đứa bạn xóm “trường Đảng” ngồi coi nồi bánh chưng. Hồi mẹ còn ở ngoài Bắc chưa về, cha về quê bỏ lại một mình trông nhà, vắng vẻ thấy mà phát sợ. 
Ngày Tết, cũng thích đi qua nhà cô sát bên cạnh để dện bánh in, hồi ông nội còn sống thương thằng cháu, mà thằng cháu thì nghịch ngầm và hoang lung. Để bây giờ tiếc vì được học ông nội quá ít: vừa nhận mặt được mấy quẻ bát quái – kiền tam liên, khảm trung mã, cấn phúc quyển, chấn ngưỡng bồn, tốn hạ đoạn, ly trung hư, đoài thượng khuyết. Thêm vào đó là hai câu đối treo ở phòng ông: Lan quế đằng phương xuân vị ngại – Đấu thăng đãi dưỡng nhật do trường. Là hết! Ngày Tết, ông nội cũng lì xì cho thằng cháu ít đồng lẻ, sung sướng lắm! Hồi đó, còn nhớ cô Dư lì xì nhiều nhất, mà có lẽ hồi nhỏ mình hay qua chơi bên nhà cô, vì bếp ăn tập thể công đoàn tỉnh hồi đó gần nhà cô… Tết thích nhất là lì xì, mà chẳng biết tiêu gì, ra hội chợ chơi lô tô, chơi trò chơi hết sạch! Năm nào cũng mang về ít bộ ly, có lần trúng lô tô được cái lốp xe (đáng lẽ được khung xe nhưng do chơi lần đầu, lúc người ta hô “kinh!”, mình mới hỏi người bên cạnh, lật đật hô “kinh!” – thế là giải chia đôi! Thắng chả bù thua, tại hồi đó ham chơi bầu cua tôm cá mãi đến hết cấp 2 thì mới thề không thèm chơi nữa, mới biết để dành tiền! Mà hết tiền đâm ra láu cá, lại nhớ coi có bác, có thím nào chưa thăm, tới nhà chơi, chúc Tết rôm rà, để … nhận tiền lì xì ra ngồi sòng tiếp!!! Thành thử lại được khen là…ngoan, lễ phép, biết thăm và chúc Tết bà con, dù không có cha mẹ đi kèm! Thế là sau này lớn lên, năm nào cũng được nhắc đi thăm người này người kia! Hì, cũng là để chuộc tội láu cá hồi nhỏ.
Tết, hồi nhỏ được kèm cặp đánh đồ đồng bằng chanh và tro bếp rây mịn, năm nào cũng đánh, thành chuyên gia! Trước 23 thường về quê đi chạp mả. Riết rồi quen, năm nào không đi cảm thấy thiếu thiếu! Hai anh em được ông nội dạy cúng, nhưng có lẽ do mình vào trước 3 năm, ở gần ông nội nên cúng quen hơn, còn ông anh thì lạy như bửa củi! (Hì, bây giờ bác làm trưởng nam nên thành chuyên gia đại diện gia đình đi cúng giỗ, cũng là để bù!!!). Mình học cúng bài bản, được ông nội khen, thích lắm! Ba bái bốn lạy, đúng kiểu nhất bộ nhất bái! Mà lòng tay cúng ông bà thì úp xuống, không ngửa ra như lễ Phật! Ngày Tết thì 30 cúng rước, mồng 3 cúng đưa, có đi chơi đi thăm ai cũng phải nhớ mà về làm đủ lễ nghĩa! Bày mâm cúng thì khỏi nói, ông nội coi bày không đúng phép tắc thì chỉnh từng li từng tí! Dịp Tết năm ngoái, lên lễ đền Tây Sơn, mình mới được biết thêm: lạy vua 5 lạy. Trước đó chỉ biết lạy Phật 3 lạy, lạy ông bà 4 lạy, lạy linh sàng 2 lạy!!!
Tết khi mẹ vào Nam từ năm 1979 thì còn sướng là được ăn thịt kho Tàu ăm ắp, thịt nấu măng khô, bánh chưng mẹ gói. Ngon ơi là ngon! Mẹ nấu món Tết ngon lắm, đi chơi đâu về lăn vào kiếm cái bánh chưng, hay cuốn bánh tráng đổ chả kèm rau sống là sung sướng cuộc đời! Sau mẹ truyền nghề cho con dâu, ăn mấy món khoái khẩu ngày Tết, lại rưng rưng nhớ mẹ…
Hồi còn ở với mẹ, năm nào giao thừa cũng thức đốt pháo cho đến khi Nhà nước cấm pháo, chả bù hồi trước, có lần giao thừa mình lang thang ngoài đường lượm pháo, về tha thẩn ngồi trước nhà, lôi từng viên pháo mót ra đốt mà ứa nước mắt! Sau này kể lại cho mẹ nghe, mẹ cũng khóc ứa nước mắt. Biết làm sao, cha năm nào cũng phải về quê, không có mẹ, có anh,, thui thủi chả khác mồ côi, sao mà không chạnh lòng! Có mẹ, có anh, khi cha về quê thì mấy mẹ con quây quần bên ấm trà, quả bánh, lúc lớn hơn lại có hẳn ly rượu mừng, mẹ con chúc nhau sau giao thừa thật vui! Đến khi có vợ ra ở riêng, sau giao thừa lại có niềm vui gọi điện chúc Tết cha,  mẹ và bà con phía ngoại (vì quê nội thường ít ai thức đến giờ đó đón giao thừa, buồn hiu!). 
Mồng 1 thường mấy anh em về quê sớm, đi thăm Từ đường lớn, từ đường các phái, uống chén rượu xuân, hỏi thăm chúc Tết bà con. Lớn lên, có gia đình vẫn giữ được lệ này. Mấy cu con nhà mình nhìn chung chưa được giáo dục đầy đủ và nghiêm ngặt như ba nó, nên bây giờ lớn rồi mà vẫn cứ lộc ngộc, lơ ngơ chả biết ai với ai. 
Lễ nghĩa ngày Tết nhiều khi phiền toái, nhưng ngẫm kĩ lại hay, vì nối kết được tình gia đình, tộc họ, quê hương. Tết thời nay nhạt đi nhiều phần lễ mà chú trọng nhiều phần hội, chơi là chính ăn là phụ, tình tộc họ cũng nhạt đi nhiều, trẻ con ít thích về quê hay có về phần nhiều cũng lơ ngơ!
Cho một đề Văn, mà tự dưng có bao điều để nhớ lại, cũng hay! Thấm thoắt mà đón Tết ở quê nội Bình Định đã 35 năm rồi! Bây giờ, đâm ra hoài cổ như một ông già… Học trò nghe dăm chuyện Tết mình kể, cứ như là nghe chuyện ngày xửa ngày xưa!
 Ừ, ngày xửa ngày xưa, Tết là…
27 tháng Chạp Tân Mão
Trần Hà Nam

Tản mạn về phong cách nhà văn – Hàn Mặc Tử



Phong cách nhà văn, được hiểu theo một công thức quen thuộc: phong cách xét từ hai mặt nội dung và hình thức. Nội dung bao hàm ba phương diện: cách nhìn – cách cảm – cách đánh giá. Hình thức xét ở hai mặt: cách lựa chọn và cách thể hiện. Nhà văn có phong cách tức là các mặt biểu hiện trên phải độc đáo, sáng tạo, mang dấu ấn cá tính riêng biệt. Cơ sở hình thành nên một phong cách nhà văn là yếu tố dân tộc – lịch sử – thời đại ; đồng thời còn là những nét riêng trong đời tư, các nhân tố gia đình, dòng tộc, quê hương… Tất cả những điều này chi phối, định hướng việc tìm hiểu phong cách tác giả trong văn học nhà trường, thành nếp tư duy quen thuộc và ít nhiều làm mất cảm hứng sáng tạo trong cảm nhận nét hấp dẫn, sức sống tác phẩm toát lên từ phong cách nhà văn. Trên trang riêng này, thử một lần thoát khỏi tư duy nhà giáo để làm một người cảm thụ thuần túy xem sao!


Trong số các nhà văn nhà thơ, có lẽ ấn tượng nhất với tôi là Hàn Mặc Tử. Từ những ngày xưa khi còn là học trò, đã ám ảnh bởi những câu thơ Hàn:
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Để rồi đến khi thành sinh viên, năm 1987, niềm vui lớn lao chính là khi mua được quyển “Thơ Hàn Mặc Tử”. Đến lúc đó, mới thật sự làm một hành trình đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử trong thơ. Nhưng điều khiến tôi nhớ về Hàn, hình dung về Hàn có phần nào ảnh hưởng từ Chế Lan Viên, trong bài tựa “Hàn Mặc Tử, anh là ai”: “Bây giờ thì Hàn Mặc Tử nằm đây, trên điểm cao Gành Ráng này, đối diện với bể Đông. Bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời Anh”. Chế quả thật là một trong những tri âm của Hàn, khi hai con người cùng “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” từ thuở cùng là chủ soái của “trường thơ Loạn”, cùng tự nhận mình là điên, là say, là người mơ, người thơ… Kể cả khi thơ lãng mạn trong nhà trường bị xem là “bạc nhược, suy đồi” thì Chế vẫn mượn lời Hàn đề từ cho bài thơ của mình: “Người Thơ phong vận như Thơ ấy”. Mới thấy, lời quả quyết của hơn 40 năm trước của Chế cùng lời tựa năm 1987 nhất quán một cách đánh giá: “Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử”. Dẫu cho trong thời điểm 1987, bài viết của Chế Lan Viên còn nhiều phen phải đóng vai trò thầy cãi để chứng minh sự trở lại xứng đáng trên văn đàn Việt Nam của Hàn. Cũng phải thôi, vì văn học Việt Nam đến thời điểm đó mới bừng tỉnh và đang dè dặt những bước chân trên hành trình đổi mới. Việc quy chụp quan điểm, khắt khe với dòng văn học trước cách mạng vẫn còn nặng nề. Bài viết mang tính “định hướng” cách tiếp cận Hàn Mặc Tử phần nào chi phối cảm xúc, nhưng khi đọc hết tập thơ, người viết bài này đã hoàn toàn bị hút vào không gian thơ Hàn Mặc Tử, không phải bằng cảm giác của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam khi lạc bước vào một vườn thơ “rộng rinh và ớn lạnh” mà bằng tất cả sự trong trẻo của một tâm hồn mê đắm văn chương một cách trong trẻo và thánh thiện của một sinh viên khoa Văn.
Có thể bây giờ, khi đã qua tuổi 40, lòng không còn trinh bạch như buổi đầu lưu luyến ấy, nhưng Hàn vẫn có một sức hút, nỗi ám ảnh dị thường.
Một Hàn Mặc Tử đã sống trong thơ “bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn”, sống một cách “mãnh liệt và đầy đủ”, sống bằng cách “phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu”, “đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống”. Phát biểu của chính Hàn Mặc Tử là quan niệm thơ thành thực bậc nhất, chính xác đến từng câu chữ, hình ảnh, giọng điệu trong sáng tác của Hàn. Người Thơ ấy chỉ sống trên dương thế 28 năm, nhưng sức sống từ thơ Hàn đã vượt qua mọi giới hạn thời gian. Thiết nghĩ Hàn mới chính là người đã đẩy Thơ Mới đi đến tận cùng hành trình hiện đại hóa, một cách hết sức tự nhiên bằng bản năng thi nhân của Hàn.
Chu Văn Sơn có lí khi gọi thi pháp của Hàn là “Thi học của cái tột cùng”. Nhưng tôi hoàn toàn không thích cái cách tiếp cận Hàn bằng lối hàn lâm kinh viện của anh, ngồn ngộn kiến thức, uyên bác thật đấy, nhưng đọc xong rồi cảm thấy ngờ ngợ vì dường như đó không phải là Hàn của mình, Hàn như mình hình dung và yêu mến! Dù cho luận thuyết của anh về Hàn cũng có những lúc gật gù tâm đắc “Thế là đau thương! Thế mới đau thương!” khi khảo sát về tập Đau thương – tức Thơ Điên của Hàn, nhiều người gật gù theo nhưng riêng tôi không cảm được! Cũng đành, biết sao!
Hàn Mặc Tử, với tôi, là người đem đến cho thơ cái rụt rè buổi đầu trinh bạch trong tình yêu, với những cảm giác sống động cựa quậy trong từng câu chữ:
“Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Dám ôm hồn Cúc ở trong sương”

Trạng thái “tình trong như đã mặt ngoài còn e” từ thời Nguyễn Du phải đến Hàn mới thật sự đốt thiêu tâm hồn bằng ngọn lửa tình ngùn ngụt nhưng lại che đậy bằng dáng vẻ bên ngoài “bẽn lẽn” ngượng ngập của người “gái quê” chân chất:
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em

Chân dung Gái quê cũng là chân dung của Hàn trong khoảnh khắc đầu tiên đặt chân trên con đường cách tân để làm một hành trình thơ mới thoát thai khỏi cách nhìn cũ, cảm nhận cũ. Hồn xưa Lý Bạch vẫn còn đó trong làn gió Đường thi của bài Xuân Tứ, nhưng lại rất phương Tây trong nụ hôn làm hồng đôi má giai nhân! Lại thêm cái tươi mát của ca dao dân Việt gợi cảm với lối xưng “em” rất nữ tính, gợi về vẻ đẹp “Thân em như chẽn lúa đòng đòng – Phất phơ dưới ngọn nắng hồng sớm mai”. Nghĩa là Hàn không đi tìm cái mới trong việc miệt mài tìm tứ lạ, “khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen” như Xuân Diệu mà chủ động tìm một lối của riêng mình. Hàn đã thật ngạo nghễ khi phê phán Baudelaire bùng nhùng giữa dục tính và tình cảm, trong lá thư gửi người bạn thơ Hoàng Trọng Miên để tuyên ngôn quan niệm thơ của mình.
Chọn con đường này, Hàn đã phát huy sức sáng tạo bùng nổ của mình trong những bài thơ tuyệt tác của tập Đau thương. Có lẽ trong cuộc so tài để chứng tỏ cái ngạo khí thi sĩ phương Đông với tác giả Hoa Ác – nhà thơ Baudelaire, Hàn đã phải đối diện với tư cách con chiên của Chúa, vượt qua lời nguyền thành “thi sĩ của đội quân Thánh giá”, nên đã có lúc Hàn nguyện với lòng sẽ đốt tập Thơ Điên để giữ trọn “Sự trong sạch của tâm hồn” trước khi về nước Chúa chăng? May thay, những người bạn đã làm trái di nguyện của Hàn, để cho bao thế hệ sững sờ với những câu thơ có sức quyến rũ ma mị, đôi khi chỉ cảm mà không cần thiết hiểu. Vả chăng, Hàn cũng đã sám hối trong thơ rồi còn gì, bằng tất cả sự tôn sùng dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh và Thiên Chúa:
Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng

Có thể qua từng chặng Đau thương : Hương thơm – Mật đắng – Máu cuồng và Hồn điên ta chứng kiến một tâm hồn nhỏ máu vì bị tách ra khỏi cuộc đời yêu thương bởi căn bệnh quái ác, bị cách ly bởi những thành kiến nghiệt ngã của người đời. Nhưng hạnh phúc biết bao khi Hàn nhận phần đau thương bỏng rát về mình, để đem cho Đời “những dòng thơ rất mát”.
Hỡi những ai đọc Hàn, hãy đừng quá chú tâm vào tài năng thơ có thể làm nên những bài đọc xuôi, đọc ngược theo 6 cách như “Cửa sổ đêm khuya” mà hãy lắng nghe tiếng lòng của Hàn đau đáu vọng vang trong từng câu chữ:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Chẳng có niềm trăng và ý nhạc
Có nàng cung nữ nhớ thương vua

Khúc cung oán sầu hận ấy là lòng đau của chính Hàn, nhập vào nỗi niềm cung nữ. Đâu phải là nỗi cô đơn thi sĩ làm dáng mà là nỗi đau thực sự của một Con Người. Con Người ấy đã từng yêu biết bao nhiêu Mùa Xuân Chín:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây

(…)
Có mùa xuân nào tình tứ và ý nhị thế chăng? Hình ảnh mùa xuân tươi tắn non tơ như tâm hồn thi sĩ dạt dào bao cảm xúc lãng mạn. Có nét tương đồng giữa Hàn Mặc Tử và Lưu Trọng Lư trong cách cảm nhận Hương thơm của tình yêu với vẻ rụt rè như chàng trai mơ mộng hóa thân thành “khách xa”, chiêm ngưỡng bức tranh non tơ của thiên nhiên, lắng nghe âm thanh trong vắt của “bao cô thôn nữ”. Cứ xa xa mà ngắm, vậy mà đã rạo rực xuân tình trong cảm giác rất mãnh liệt vang lên thành tiếng, hiện ra thành hình: sột soạt, vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ… để cho lòng chàng dậy lên một nỗi “bâng khuâng” giấu mình trong hoài niệm.
Thế giới của Hàn sáng láng nguồn cảm xúc, linh động những cảm xúc trong một không gian luôn cựa quậy câu chữ hình ảnh, ngay cả trong những lúc tưởng như tĩnh lặng, lắng đọng nhất. Ảo và Thực như trộn hòa, không cần phải cố gắng dụng công trong ngữ âm, trong điệp từ. Với Hàn, làm thơ là để cho cảm xúc cứ thế bật lên thành lời, thành nhạc:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng…
Hàn Mặc Tử gọi Trăng như chú mục đồng gọi nghé, để trăng hiện lên thật lung linh, huyền hồ, ma mị, bỡn cợt, trêu ngươi, rã rượi trong tuyệt vọng nhưng cũng khắc khoải bao khát vọng. Hàn có cả một Bến sông Trăng để thỏa thuê lặn ngụp, biến hóa, trửng giỡn, đê mê.
Ha ha! Ta đuổi theo trăng, ta đuổi theo trăng
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng…
– Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng…
– Một miệng ta trăng là trăng
Lòng ta là vô số gái hồng nhan…
– Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu r
a

Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Chẳng có một nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

Chợt nhớ một kỉ niệm cùng Nguyễn Mạnh Quân – người bạn thân hồi còn là sinh viên điêu khắc, là người Quy Nhơn nên chọn đề tài là tượng Hàn Mặc Tử. Cả hai đã cùng lang thang trong Quy Hòa, đã nghiền ngẫm lại tập thơ của Hàn cả hàng mấy tháng trời, đã băn khoăn đi tìm một biểu tượng về Hàn: hoa cúc hay là trăng? Để rồi, bức tượng gỗ mít tạc chân dung Hàn Mặc Tử của Quân đã được chấm điểm cao tuyệt đối và được giữ lại trưng bày ở khoa Điêu khắc trường Mỹ Thuật Huế. Bức tượng bán thân được tạc cách điệu, với khuôn ngực Hàn là một khối âm mang hình vầng trăng khuyết. Vầng trăng đã được anh bạn chọn như là linh hồn, sự sống của Hàn, đã chinh phục những giám khảo điêu khắc khó tính nhất. Tôi chỉ được xem bức ảnh chụp bài thi đã rùng mình, bởi chợt nhớ câu thơ Hàn:
Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột

Vầng trăng – một nửa ấy là một cảm nhận hoàn toàn khác với “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” của Nguyễn Du, nhưng lại giống lạ kì ở phẩm chất của những kẻ trót sinh ra cùng một “nòi tình”! Nửa trăng của Hàn “ai cắn vỡ” đã hiện hữu như một biểu tượng đau thương của một hồn thơ luôn khao khát hòa nhập giữa cuộc đời:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Thần thái của thơ Hàn là từ vầng trăng đợi chờ, vầng trăng đau thương một nửa kia. Để thành thơ, thành tình người vô lượng:
Tôi ước ao là tôi ước ao
Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
Như bông trăng nở, bông trăng nở
Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

Vầng trăng khuyết ấy, trái tim đau ấy đang phiêu du ở một chốn nào, đang “chơi giữa mùa trăng” liệu có kịp về với bến sông Trăng?
2.12.2011
TRẦN HÀ NAM

Con đi học tròn một tháng


Hôm nay là 27 tháng 9 năm 2011, tròn một tháng con trai lớn đi học trường Ngoại Thương thành phố Hồ Chí Minh.
Khi con ở nhà, hay bị ba la vì bừa bãi lộn xộn. Bây giờ, vào ở trọ, cũng đã có tiến bộ hơn. Nhưng tất cả mới chỉ là khởi đầu, còn rất nhiều việc phải lo trong tương lai. Con được vào lớp Cử nhân Chất lượng cao, nghe giảng bằng tiếng Anh, mai mốt có điều kiện hơn trong công việc, giao tiếp.
Mới vào Sài Gòn, con đã đi khắp nơi để cho biết đường, thể hiện được tính năng động, thích nghi nhanh. Nhưng cần phải cảnh giác hơn với những trò lừa tinh quái của dân giang hồ. Tính con hồn nhiên, dễ bắt chuyện, đã bị gặp ngay đám cò mồi dụ dỗ làm trai bao!!! Nghe con kể lại, với giọng sửng sốt, mình chỉ cười và lo con sẽ còn gặp nhiều chiêu thức tinh vi hơn. Mình biết tính con, nên khoản này có thể yên tâm.
Trong đó, con thỉnh thoảng tới thăm bà con. Có lẽ giờ này ăn cơm bụi hoài, cu con cũng ngán nên thèm không khí gia đình. Giống mình ngày xưa, nhào vào nội trú để rèn luyện tính tự lập, cuối tuần lại mò về nhà ăn cơm mẹ nấu. Chỉ có điều cu con học xa, thiệt thòi hơn, chỉ về vào dịp hè, dịp Tết.
Môi trường Đại học sẽ giúp con trưởng thành hơn, đúng với lứa tuổi của mình. Mong con mau tiến bộ và càng chững chạc hơn.

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Cái Đẹp trong xiềng gông!?


Giảng dạy bao nhiêu năm bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tuôn ra không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp về đối lập Bóng tối – Ánh sáng, về hiện thân của cái Tài – cái Đẹp – cái Thiên lương, bị ám không ít bởi bài viết của thầy Nguyễn Đăng Mạnh hết lời ca ngợi con người vô úy… Thế nhưng, khi tự mình đọc lại tác phẩm, mới thấy một tình tiết đáng suy ngẫm, không dám phán bừa mà từ sự cẩn trọng cần thiết của cái gọi là “hoài nghi khoa học”, viết để cùng trao đổi với những người quan tâm.

Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ được  nhiều người tâm đắc. Bản thân tôi từng giảng say sưa về “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khi Huấn Cao – người tử tù – đang dồn hết tâm lực viết những dòng chữ cuối cùng trên “tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Đó là thời điểm để cho ba con người – ba đốm sáng nhỏ cô đơn hội tụ trong tình yêu cái Đẹp… Nét chữ của Huấn Cao là hiện thân của “hoài bão tung hoành một đời con người” để cho một người cả đời sống trong bóng tối và sự sợ hãi đã  được đón nhận trọn vẹn Cái Đẹp ấy trong khoảnh khắc thốt lên lời nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”…
Có nghĩa là theo chiều hướng phân tích xưa nay, tác phẩm là một đỉnh cao tư tưởng Nguyễn Tuân, hàm chứa quan niệm Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám về Cái Đẹp. Cụ Nguyễn được tán tụng nhiều, nên có lẽ khi nghe phản biện này không biết Cụ có về vặn cổ thằng lắm chuyện hậu sinh này không? Nhưng không nói ra thì ấm ức, mà cũng chưa thấy ai nói! Thôi thì có bị chửi là dốt, là ngạo mạn như Trần Đăng Khoa cũng đành!!!
Đoạn khiến cho kẻ hậu sinh này băn khoăn là khi nhà văn đặc tả Huấn Cao trong vai trò người nghệ sĩ sáng tạo cái Đẹp: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồngtiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…“.
Bây giờ đọc kĩ, ngẫm lại, thấy sao mà người-sáng-tạo-Cái-Đẹp bị đối xử một cách tàn tệ đến thế! Vì trước đó, viên quản ngục được biết đến như là người có “lòng biết giá người, biết trọng người ngay”, đã từng bị Huấn Cao xua đuổi mà chỉ biết im lặng lui ra với lời “Xin lĩnh ý”! Nhân vật này cũng từng tự biết mình khi so với Huấn Cao “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”! Ông ta cũng biết để có chữ của Huấn Cao cho thỏa sở nguyện thì không thể dùng quyền lực hay dụ dỗ mà có được nên rất khổ tâm…
Ấy vậy mà trong buổi tối cuối cùng, viên quan coi ngục kia lại để tâm hết vào nét cỉhữ Huấn Cao mà quên khuấy phải đối xử thật sự trọng thị với người cho chữ. Ông ta chỉ quan tâm đến nét chữ – “báu vật trên đời” mà để cho người nghệ sĩ sáng tạo vẫn phải “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”! Quả là một tình tiết vô lý, nếu như không muốn nói là vô đạo, trong hoàn cảnh chỉ có ba người: Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại trong căn buồng nhà ngục! Phải hiểu ra sao dụng ý của cụ Nguyễn Tuân đây?
Thử đưa ra vài cách cắt nghĩa:
– Cụ Nguyễn muốn “tô đậm nét độc đáo phi thường” nhấn mạnh bằng thủ pháp đối lập Cái Đẹp với Cái Xấu, Tội ác… nên sẵn sàng tạo một khung cảnh đối lập con người – hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn, bất chấp thực tế!
– Cụ Nguyễn muốn nói lên tình trạng sáng tác của người nghệ sĩ trong chế độ thực dân phong kiến, sáng tạo cái Đẹp trong gông xiềng, nhưng không muốn cái Đẹp tồn tại trong nhà ngục (như lời Huấn Cao nói ở phần sau: “Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”).
Nếu lí giải theo cách đó, có lẽ sẽ đẹp lòng những ai muốn đề cao Huấn Cao, đề cao Cái Đẹp! Nhưng nếu như vậy thì ta phải đánh giá ra sao đây về nhân vật quản ngục?
Ông ta là người đứng đầu bộ máy đàn áp, là kẻ có thừa mánh khóe và luôn cẩn trọng trong công việc mẫn cán của một viên quan coi ngục. Thử xem ban đầu ông ta sợ hãi tái mặt như thế nào khi nghe lời nói buột miệng của thầy thơ lại: “Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn.”. Đối xử với tù, ông ta cũng cùng một giuộc với bọn lính cậy quyền uy. Bằng chứng thầy tớ hiểu nhau là khi “Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra” (nhưng hôm ấy lại là Huấn Cao – người sở hữu “báu vật” – nên ông ta đối xử khác ngày thường mà thôi!). Thủ đoạn của viên quan coi ngục này cao hơn nhiều, khi ngày ngày dâng rượu thịt cho Huấn Cao xơi (nhưng hậu quả là bị bẽ mặt khi dùng trò mua chuộc bị Huấn Cao lật mặt!). Cuối cùng, vì sự thèm khát có nét chữ Huấn Cao, viên quản ngục này đã bất chấp cả phép nước, cùng đồng phạm là thầy thơ lại táo gan xin chữ Huấn Cao trong nhà ngục – một hành động có thể mất đầu! Huấn Cao hoặc là ngây thơ, hoặc là không thèm chấp, hoặc là bao dung với quản ngục, vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục mà bỏ qua không thèm đếm xỉa gông trên cổ và xiềng dưới chân mình! Trớ trêu và bi hài thay cho người nghệ sĩ vào phút sáng tạo cuối cùng của mình đã giao báu vật cho một kẻ vô đạo, lại nói với hắn những lời như tri âm tri kỉ!
Nhiều người say sưa với ý tưởng đề cao quản ngục như là người biết yêu Cái Đẹp thật sự, thậm chi cho rằng hành động chắp tay cảm động thốt ra lời “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!” chẳng khác nào cái chắp tay của Chu Thần Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu chắp tay trước hoa mai). Giả sử không có cái chi tiết cụ Nguyễn Tuân đưa vào “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng…” thì kẻ viết bài này cũng tin như thế! Còn chi tiết này tồn tại trong tác phẩm thì xin phép tất cả những ai yêu mến đề cao viên quản ngục mà thốt lên rằng : viên quản ngục này là một thằng đểu thượng thừa!
Bởi nếu là một người đã thật sự vượt qua sự sợ hãi quyền uy và tội ác,  thật sự hết lòng vì Cái Đẹp, thì trước hết phải đối đãi với Huấn Cao như với một kẻ sĩ thật sự! Chua chát thay, một kẻ như vậy mà lại là “biết đọc vỡ nghĩa sách Thánh Hiền” sao? Tất nhiên trong hoàn cảnh ấy, không thể mời Huấn Cao về nhà mà khoản đãi rượu thịt, đốt trầm thắp bạch lạp cho Huấn Cao viết chữ, vì có thể làm cho tội vào thân mà chữ cũng mất! Nhưng nơi nhà ngục, ông ta có toàn quyền sinh sát, có thể tháo gông mở xiềng, sao ông ta không làm? Chỉ có thể kết luận: đến giờ phút ấy, ông ta vẫn là một ngục quan cẩn trọng, sợ phép nước, có biến cố gì thì có thể phủi tay chối tội! Còn được nét chữ Huấn Cao rồi, tiếc gì vài giọt nước mắt cá sấu mà không nhỏ ra cho đẹp tư thế người “biệt nhỡn liên tài”? Không thể nghĩ khác được: đây là kẻ có thủ đoạn đối nhân xử thế bậc thầy, không chỉ lừa được Huấn Cao, lừa thầy thơ lại mà lừa…cả bao người đọc dễ tính! Không biết cụ Nguyễn có định dựng chân dung một ngụy quân tử ở viên quản ngục không mà để cái chi tiết Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ”
Cụ Nguyễn viết về thú chơi thư pháp, ắt hẳn phải biết đầy đủ những nghi lễ thư pháp đích thực để có nét chữ thể hiện trọn vẹn thần thái khí phách người viết chữ! Hay cụ cũng muốn phút giây ấy Huấn Cao chơi ngông không thèm tháo gông mở xích? Liệu nét chữ ra đời trong khi cổ vướng gông, chân vướng xiềng có thể thỏa chí tung hoành không?
Một chi tiết như vậy tồn tại trong văn bản, nếu như cụ Nguyễn Tuân muốn đề cao quản ngục và Huấn Cao, thì tiếc thay, “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”!
TRẦN HÀ NAM

Con có kết quả thi Đại học


Tối nay cuối cùng cũng có kết quả thi đại học ngoại thương của con. 21,75 làm tròn thành 22 điểm, chưa tính điểm thưởng và điểm khu vực. Biểu điểm này mấp mé, nhưng hy vọng theo thông báo điểm năm nay của Ngoại Thương cơ sở phía Nam thấp hơn thì hy vọng con đậu.
Vui nhưng vẫn tiếc vì những chữ nếu…
Mà thôi cũng chẳng lăn tăn làm gì những chuyện đã qua. Bây giờ là phải lo chuyện sắp tới con đi học như thế nào. Con đi học, bố mẹ thì lo làm nhà. Nhìn chung chồng chất những thử thách. Chẳng sao, bây giờ dẫu sao cũng sướng hơn cái thời khốn khổ khốn nạn ngày trước. Mẹ đã lo được cho mình học hành thành người, phải vất vả bao nhiêu. Chả lẽ mình không noi theo để chăm cho con khôn lớn?
Chỉ lo một điều với tính ương bướng gàn dở củ cu con, khó có sự suôn sẻ thuận lợi trong quá trình học. Môi trường đại học là sự cạnh tranh khốc liệt vô cùng, và tất nhiên hy vọng con mình sẽ trưởng thành! Cũng mong tâm lý con vững vàng hơn để tránh khỏi những sai sót đáng tiếc.
Cũng còn lo, kiến thức sống, kiến thức văn hóa ứng xử của con còn mỏng quá, cứ thẳng băng theo ý mình thì khó mà mềm mỏng linh hoạt trong bất cứ công việc gì. Tính đó sẽ ảnh hưởng cả những dự định, những tính toán của con, làm nghèo ý tưởng sáng tạo trong cuôc sống.
Chỉ mong con càng lớn càng khôn ra, còn như tình trạng hiện tại thì chỉ biết phán với tư cách một ông cha: Dại lắm! Khờ lắm!

>Với tôi, Trịnh Công Sơn…


>

Có lẽ tôi bắt đầu biết nghe nhạc Trịnh từ cuối thời phổ thông và suốt những năm tháng học Đại học. Tôi tự hào vì ông là sinh viên trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, vì vậy khi nghe những Biển Nhớ, Hạ Trắng…tôi cứ cố hình dung ông viết ở nơi nào trong khuôn viên của trường Đại học!

Cũng lạ, chẳng hiểu sao những năm 86 – 90 quán xá lại nhiều băng Khánh Ly hát đến thế, có điều thời đó còn nhầm lẫn khi Khánh Ly hát Trầm Tử Thiêng mà cũng nghĩ đó là Trịnh! Cũng phải thôi, vì chúng tôi đâu có sinh ra và lớn lên ở miền Nam, đâu có dịp tiếp xúc hết với gia tài của Trịnh. Còn nhớ ở Quán cà phê Kem – Biên Cương ngồi nghe và hình dung qua những ca khúc Da Vàng: “Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe…”, thương cho đất nước và con người Việt Nam phải chịu cảnh đạn bom khốc liệt quá lâu! Và cảm nhận nỗi đau của người nghệ sĩ qua lửa đạn chiến chinh!

Còn nhớ những khoảnh khắc hàng giờ liền ngồi thiền nghe nhạc Trịnh, cảm nhận qua màn mưa những lời thủ thỉ “…mưa vẫn mưa bay qua miền đất rộng – Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau…”! Nhạc Trịnh nghe vào những ngày mưa buồn thật, nhưng lại thấy lòng trong trẻo lạ! Có khi đi chơi vào Gành Ráng hay Quy Hòa, gặp hôm nắng đẹp là lại nghêu ngao: “Gọi nắng, trên vai em gầy, đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say…”

Rồi mưu sinh mỏi mệt, thành công và thất bại trong cuộc sống cũng nhiều, lại tìm đến Trịnh như một nguồn an ủi, như tìm chút động viên. Còn nhớ, khi trải qua cảm giác ê chề vì bị sỉ nhục (dù rằng là thông tin sai), cả một đêm nghe đi nghe lại không chán bài hát “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng” qua giọng ca của chính ông, và nhận lời an ủi của anh bạn cùng trường đang học bên kia bờ đại dương, thấy lòng vơi phiền muộn rất nhiều. Và như phép màu, qua 1 giờ đêm, từ nỗi tủi nhục biến thành niềm hạnh phúc vô bờ khi thông tin được đính chính. Lại có cảm giác Trịnh như đã đến bên mình, dịu nhẹ vỗ về…

Và còn bao lần nghe Trịnh, trong cảm giác lòng thắt lại vì thương những cảnh ngộ thiệt thòi, những số phận trớ trêu. Lúc ấy, lại vang lên lời hát như nhắn nhủ: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…”

Vâng, để gió cuốn đi….

Thấm thoắt đã 10 năm. Ngày ấy, ngồi tại trường, đúng ngày Cá tháng Tư, đọc tin trên báo cứ ngỡ ngàng sửng sốt như một trò đùa. Tạo hóa thật nghiệt ngã chọn đúng ngày Cá để đón Trịnh về…Đến nỗi, khi đưa thông tin nóng lên mạng home.vnn.vn mình còn bị mắng: đùa gì mà ác thế! Và hơn 10 ngày sau, khi có mặt tại Sài Gòn, mình đã đến quán Sài Gòn Xanh dự một đêm tưởng niệm Trịnh thật đặc biệt do nhóm bạn ở Quãng Ngãi tổ chức. Hôm đó, đã hát như lên đồng liên khúc “Cát Bụi – Tình Xa”, dù còn có chút vấp váp nhưng cũng đủ cho cảm nhận nỗi bàng hoàng: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi, cát bụi mệt nhoài, mặt trời soi một kiếp rong chơi(…) Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày (…) Ngày tháng nào, đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã lên khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mê…

Thấm thoắt đã 10 năm, nhạc Trịnh vẫn còn làm ta nhớ bao ngày tháng đã đi qua, dù cho “mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi”. Nhạc Trịnh vẫn vang ngân, “dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai…”

>Thơ Trần Hà Nam treo tại Nhạn Tháp (Phú Yên)


>
Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện đi Phú Yên dự ngày thơ, đã chụp được bài thơ treo trên đường lên núi Nhạn Tháp của Trần Hà Nam! Một kỉ niệm đẹp và anh đã gửi cho tôi những bức ảnh này!

Ảnh 1: Bài thơ SEN VÀ BÙN
Ảnh 2: Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện bên bài thơ trên đường lên núi Nhạn