Vũ Ngọc Liễn – người nặng lòng với Đào Tấn và tuồng hát bội


Trong lịch sử hát bội Việt Nam, vị hậu tổ Đào Tấn (1845 – 1907) còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ. Chỉ đến khi hội nghị nghiên cứu Đào Tấn lần thứ I (1977) thì tên tuổi cũng như sự nghiệp của ông mới thật sự được chú trọng trong giới nghiên cứu, học thuật của nền văn học cách mạng. Người tiên phong trong việc khẳng định vai trò Đào Tấn chính là thi sĩ Xuân Diệu. Trong các cuộc hội thảo lần thứ II (1982) hội thảo lần thứ III (2001) các ý kiến đánh giá về Đào Tấn, các bài tham luận của nhiều học giả đã bổ sung thêm nhiều tài liệu quý báu. Thế nhưng hầu như sau các cuộc hội thảo ấy, thành tựu chỉ nằm trong các tập kỉ yếu hội nghị. Cụ Đào Tấn không có dịp đến với công chúng cả nước. Tại hội thảo lần thứ III, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã đặt vấn đề tập hợp công bố di cảo đồ sộ của Đào Tấn cũng như các kết quả nghiên cứu ban đầu, với dự định sẽ phải hơn nghìn trang viết. Nhưng rồi, không ai đủ kinh nghiệm, công sức cũng như niềm đam mê theo đuổi đến cùng việc nghiên cứu Đào Tấn như Vũ Ngọc Liễn. Vậy là vị lão tướng đã xấp xỉ bát tuần lại dồn hết tâm sức để làm một việc tưởng chừng như không tưởng, thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước để làm nên bộ công trình đồ sộ ba tập: Đào Tấn Thơ và Từ (in 2003), Đào Tấn Tuồng hát bội (in 2005) và Đào Tấn qua thư tịch (in 2006). Ròng rã bốn năm trời, khi bộ sách hoàn thành cũng là lúc ông nâng ly mừng thọ 82 tuổi!

vnl
Cảm động biết bao nhiêu công việc thầm lặng mà đầy ý nghĩa này. Cảm động biết bao nhiêu những lời tác giả ghi sau của cuốn sách, với sự khiêm tốn nhận lỗi sai sót trong quá trình biên khảo và lời tri ân : “Nhân dịp bộ sách Đào Tấn hoàn tất việc in ấn tôi xin ghi ơn những người đã có công đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công trình nghiên cứu danh nhân Đào Tấn bao năm qua, trong số ấy nhiều người đã quá cố như anh Xuân Diệu, Hồ Đắc Bích, cụ Mạc Như Tòng, cụ Tống Phước Phổ, anh Đỗ Văn Hỷ… Tôi đặc biệt cảm ơn hai ông bạn vong niên Bùi Lợi và Mạc Côn đã cùng tôi lăn lộn sưu tầm tài liệu về Đào Tấn suốt thời gian dài. Cảm ơn cô Kim Hưng (Nhà xuất bản Văn học) đã giúp tôi chăm sóc bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu ở Nhà Xuất bản Văn Học (1987). Cảm ơn ông bạn Nguyễn Thanh Hiện đã cùng tôi vật lộn với chữ nghĩa làm bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu. Cảm ơn Ty Văn Hóa – Thông Tin Nghĩa Bình trước đây và Sở Văn Hóa Thông Tin Bình Định hiện nay luôn cổ vũ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu về Đào Tấn. Cảm ơn Nhà xuất bản Sân khấu của hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam luôn đôn đốc và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn tất công tác biên khảo bộ sách này” (Ghi sau – Đào Tấn qua Thư tịch). Chúng ta hãy hiểu niềm cảm động biết ơn của một nhà nghiên cứu tuổi 82, đã không hề quên công những người đã giúp ông có dũng khí, niềm tin và sức lực cho một bộ ba tác phẩm đồ sộ về Đào Tấn. 
Điều đáng nói là sau khi công trình này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu, các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quy Nhơn, Đại học KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh đã có thể có một cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về Đào Tấn, tiếp tục khai thác để cho sự nghiệp của danh nhân Đào Tấn thật sự hoàn thiện trong mắt mọi người. Đã bắt đầu có nhiều luận văn thạc sĩ ở Hà Nội, Quy nhơn, TP. Hồ Chí Minh có điều kiện khai thác sâu hơn về Đào Tấn, nhờ những tư liệu quý từ bộ sách. Nhiều sinh viên trẻ đã tìm đến với Vũ tiên sinh để cùng nhau nói về tuồng hát bội, về thơ và từ Đào Tấn, tham khảo những ý kiến của một người tuổi tác đáng cụ, đáng ông nhưng tấm lòng với Đào Tấn vẫn sôi sục nhiệt thành như tuổi đôi mươi. Đáng nể hơn là họ vẫn thấy ông cặm cụi biên soạn các công trình mới, phổ cập đến đại chúng những tài liệu vốn dĩ thường được lưu trong dòng tộc như gia bảo rồi dần dần mai một! Lần lượt những tài liệu “Chầu Đôi” (Trúc Tôn Phạm Phú Tiết) được chỉnh sửa hoàn thiện, “Góp nhặt dọc đường”, “Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ” của ông ra đời và được đón nhận nồng nhiệt. Đó là cái Tâm với tuồng, với cả bậc thầy của hậu tổ Đào Tấn, tấm lòng dành cho bậc cha chú đã dìu dắt ông vào nghề. Một con người như vậy, thật đáng kính. Có lẽ cũng chính từ tình yêu không mệt mỏi với nghệ thuật tuồng đã giúp ông vượt lên cả trận đột quị tai biến để hoàn thành tâm nguyện biên khảo về Nguyễn Diêu – thầy của hậu tổ hát bội Đào Tấn vào năm 2011 vừa qua.
nd
Một con người lao động bền bỉ, chỉ với một tâm nguyện đưa tên tuổi Đào Tấn, đưa nghệ thuật tuồng đến với công chúng hôm nay xứng đáng được ghi nhận công lao. Và biết bao người làm văn hóa nghệ thuật đã phải kính phục con người vượt lên chính mình, luôn học hỏi rèn luyện cầu thị để trở thành một nhà nghiên cứu tuồng hàng đầu Việt Nam. Không những thế, con người ấy luôn tỏ rõ sĩ khí trước những hành vi làm vấy bẩn bầu không khí văn chương, thẳng thắn lên tiếng trước những điều sai trái. Đáng trân trọng thay!
Vĩ thanh: vậy mà từ khi bộ ba công trình về Đào Tấn cùng với “Góp nhặt dọc đường” của tác giả Vũ Ngọc Liễn được đề cử giải thưởng Nhà nước như một ghi nhận công lao của người bền bỉ phấn đấu vì sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng hát bội, người góp phần không nhỏ đem Đào Tấn đến với công chúng thế hệ sau, đã có một số kẻ không  khỏi hận thù. Một vài bài báo trên những tờ chẳng liên quan gì đến văn chương học thuật như “Tài nguyên và Môi trường” và gần đây là báo “Tiền Phong” đã cho đăng những bài thóa mạ, vu cáo, xuyên tạc, xúc phạm tên tuổi của Vũ Ngọc Liễn, mà tên tuổi của người viết khiến người đọc ngơ ngác chẳng biết họ là ai! Rồi một vài trang mạng đăng lại, có những trang đăng hàng chục còm-men với lời lẽ đầy thù hận, hằn học mà không một lần dám chính danh. Tất cả những thông tin ấy đến tai anh em văn nghệ sĩ Bình Định, nhiều người nổi giận muốn tìm ra chân tướng những kẻ nặc danh ti tiện. Đã quá cũ rồi cái trò tung hỏa mù để tạo dư luận hòng cho hội đồng xét giải thưởng Nhà nước gác lại công trình của tác giả “có vấn đề”! Những luồng gió độc lởn vởn ấy có làm cho nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn bận tâm chăng? Gặp ông định hỏi, nhưng Vũ Tiên sinh dường như không chút bận lòng. Ông lại say sưa với ý định viết về Xuân Diệu, tìm hiểu về những người bạn văn tuyệt vời của Bàn Thành Tứ Hữu…
23.2.2012
TRẦN HÀ NAM 
hb 

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Cái Đẹp trong xiềng gông!?


Giảng dạy bao nhiêu năm bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tuôn ra không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp về đối lập Bóng tối – Ánh sáng, về hiện thân của cái Tài – cái Đẹp – cái Thiên lương, bị ám không ít bởi bài viết của thầy Nguyễn Đăng Mạnh hết lời ca ngợi con người vô úy… Thế nhưng, khi tự mình đọc lại tác phẩm, mới thấy một tình tiết đáng suy ngẫm, không dám phán bừa mà từ sự cẩn trọng cần thiết của cái gọi là “hoài nghi khoa học”, viết để cùng trao đổi với những người quan tâm.

Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ được  nhiều người tâm đắc. Bản thân tôi từng giảng say sưa về “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khi Huấn Cao – người tử tù – đang dồn hết tâm lực viết những dòng chữ cuối cùng trên “tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Đó là thời điểm để cho ba con người – ba đốm sáng nhỏ cô đơn hội tụ trong tình yêu cái Đẹp… Nét chữ của Huấn Cao là hiện thân của “hoài bão tung hoành một đời con người” để cho một người cả đời sống trong bóng tối và sự sợ hãi đã  được đón nhận trọn vẹn Cái Đẹp ấy trong khoảnh khắc thốt lên lời nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”…
Có nghĩa là theo chiều hướng phân tích xưa nay, tác phẩm là một đỉnh cao tư tưởng Nguyễn Tuân, hàm chứa quan niệm Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám về Cái Đẹp. Cụ Nguyễn được tán tụng nhiều, nên có lẽ khi nghe phản biện này không biết Cụ có về vặn cổ thằng lắm chuyện hậu sinh này không? Nhưng không nói ra thì ấm ức, mà cũng chưa thấy ai nói! Thôi thì có bị chửi là dốt, là ngạo mạn như Trần Đăng Khoa cũng đành!!!
Đoạn khiến cho kẻ hậu sinh này băn khoăn là khi nhà văn đặc tả Huấn Cao trong vai trò người nghệ sĩ sáng tạo cái Đẹp: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồngtiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…“.
Bây giờ đọc kĩ, ngẫm lại, thấy sao mà người-sáng-tạo-Cái-Đẹp bị đối xử một cách tàn tệ đến thế! Vì trước đó, viên quản ngục được biết đến như là người có “lòng biết giá người, biết trọng người ngay”, đã từng bị Huấn Cao xua đuổi mà chỉ biết im lặng lui ra với lời “Xin lĩnh ý”! Nhân vật này cũng từng tự biết mình khi so với Huấn Cao “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”! Ông ta cũng biết để có chữ của Huấn Cao cho thỏa sở nguyện thì không thể dùng quyền lực hay dụ dỗ mà có được nên rất khổ tâm…
Ấy vậy mà trong buổi tối cuối cùng, viên quan coi ngục kia lại để tâm hết vào nét cỉhữ Huấn Cao mà quên khuấy phải đối xử thật sự trọng thị với người cho chữ. Ông ta chỉ quan tâm đến nét chữ – “báu vật trên đời” mà để cho người nghệ sĩ sáng tạo vẫn phải “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”! Quả là một tình tiết vô lý, nếu như không muốn nói là vô đạo, trong hoàn cảnh chỉ có ba người: Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại trong căn buồng nhà ngục! Phải hiểu ra sao dụng ý của cụ Nguyễn Tuân đây?
Thử đưa ra vài cách cắt nghĩa:
– Cụ Nguyễn muốn “tô đậm nét độc đáo phi thường” nhấn mạnh bằng thủ pháp đối lập Cái Đẹp với Cái Xấu, Tội ác… nên sẵn sàng tạo một khung cảnh đối lập con người – hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn, bất chấp thực tế!
– Cụ Nguyễn muốn nói lên tình trạng sáng tác của người nghệ sĩ trong chế độ thực dân phong kiến, sáng tạo cái Đẹp trong gông xiềng, nhưng không muốn cái Đẹp tồn tại trong nhà ngục (như lời Huấn Cao nói ở phần sau: “Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”).
Nếu lí giải theo cách đó, có lẽ sẽ đẹp lòng những ai muốn đề cao Huấn Cao, đề cao Cái Đẹp! Nhưng nếu như vậy thì ta phải đánh giá ra sao đây về nhân vật quản ngục?
Ông ta là người đứng đầu bộ máy đàn áp, là kẻ có thừa mánh khóe và luôn cẩn trọng trong công việc mẫn cán của một viên quan coi ngục. Thử xem ban đầu ông ta sợ hãi tái mặt như thế nào khi nghe lời nói buột miệng của thầy thơ lại: “Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn.”. Đối xử với tù, ông ta cũng cùng một giuộc với bọn lính cậy quyền uy. Bằng chứng thầy tớ hiểu nhau là khi “Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra” (nhưng hôm ấy lại là Huấn Cao – người sở hữu “báu vật” – nên ông ta đối xử khác ngày thường mà thôi!). Thủ đoạn của viên quan coi ngục này cao hơn nhiều, khi ngày ngày dâng rượu thịt cho Huấn Cao xơi (nhưng hậu quả là bị bẽ mặt khi dùng trò mua chuộc bị Huấn Cao lật mặt!). Cuối cùng, vì sự thèm khát có nét chữ Huấn Cao, viên quản ngục này đã bất chấp cả phép nước, cùng đồng phạm là thầy thơ lại táo gan xin chữ Huấn Cao trong nhà ngục – một hành động có thể mất đầu! Huấn Cao hoặc là ngây thơ, hoặc là không thèm chấp, hoặc là bao dung với quản ngục, vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục mà bỏ qua không thèm đếm xỉa gông trên cổ và xiềng dưới chân mình! Trớ trêu và bi hài thay cho người nghệ sĩ vào phút sáng tạo cuối cùng của mình đã giao báu vật cho một kẻ vô đạo, lại nói với hắn những lời như tri âm tri kỉ!
Nhiều người say sưa với ý tưởng đề cao quản ngục như là người biết yêu Cái Đẹp thật sự, thậm chi cho rằng hành động chắp tay cảm động thốt ra lời “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!” chẳng khác nào cái chắp tay của Chu Thần Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu chắp tay trước hoa mai). Giả sử không có cái chi tiết cụ Nguyễn Tuân đưa vào “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng…” thì kẻ viết bài này cũng tin như thế! Còn chi tiết này tồn tại trong tác phẩm thì xin phép tất cả những ai yêu mến đề cao viên quản ngục mà thốt lên rằng : viên quản ngục này là một thằng đểu thượng thừa!
Bởi nếu là một người đã thật sự vượt qua sự sợ hãi quyền uy và tội ác,  thật sự hết lòng vì Cái Đẹp, thì trước hết phải đối đãi với Huấn Cao như với một kẻ sĩ thật sự! Chua chát thay, một kẻ như vậy mà lại là “biết đọc vỡ nghĩa sách Thánh Hiền” sao? Tất nhiên trong hoàn cảnh ấy, không thể mời Huấn Cao về nhà mà khoản đãi rượu thịt, đốt trầm thắp bạch lạp cho Huấn Cao viết chữ, vì có thể làm cho tội vào thân mà chữ cũng mất! Nhưng nơi nhà ngục, ông ta có toàn quyền sinh sát, có thể tháo gông mở xiềng, sao ông ta không làm? Chỉ có thể kết luận: đến giờ phút ấy, ông ta vẫn là một ngục quan cẩn trọng, sợ phép nước, có biến cố gì thì có thể phủi tay chối tội! Còn được nét chữ Huấn Cao rồi, tiếc gì vài giọt nước mắt cá sấu mà không nhỏ ra cho đẹp tư thế người “biệt nhỡn liên tài”? Không thể nghĩ khác được: đây là kẻ có thủ đoạn đối nhân xử thế bậc thầy, không chỉ lừa được Huấn Cao, lừa thầy thơ lại mà lừa…cả bao người đọc dễ tính! Không biết cụ Nguyễn có định dựng chân dung một ngụy quân tử ở viên quản ngục không mà để cái chi tiết Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ”
Cụ Nguyễn viết về thú chơi thư pháp, ắt hẳn phải biết đầy đủ những nghi lễ thư pháp đích thực để có nét chữ thể hiện trọn vẹn thần thái khí phách người viết chữ! Hay cụ cũng muốn phút giây ấy Huấn Cao chơi ngông không thèm tháo gông mở xích? Liệu nét chữ ra đời trong khi cổ vướng gông, chân vướng xiềng có thể thỏa chí tung hoành không?
Một chi tiết như vậy tồn tại trong văn bản, nếu như cụ Nguyễn Tuân muốn đề cao quản ngục và Huấn Cao, thì tiếc thay, “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”!
TRẦN HÀ NAM

>LẠM BÀN VỀ PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI HSG QUỐC GIA NGỮ VĂN 2011


>

Đề cho : Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. Và yêu cầu phân tích một số tác phẩm từ VHDG đến văn học hiện đại để làm sáng tỏ nhận định. Một đề văn như thế này, xác định rõ khái niệm đã đổ máu mắt, huống chi phải làm một tập hợp từ cả hai bộ phận văn học, phải làm sao bao quát cả văn đến thơ, kịch… và phải giải quyết gói gọn trong khoảng thời gian nhiều nhất là 150 phút (bời lẽ câu NLXH 8 điểm cũng không thể viết dưới 30 phút được!) trong tổng thời gian 180 phút.
Thực ra khái niệm tính nữ trong văn chương đã râm ran từ những năm bắt đầu có sự chuyển mình, đổi mới văn học sau 1986. Tuy nhiên, nâng tầm lên một vấn đề có ý nghĩa lí luận thì lại không phải là dễ dàng. Chưa kể khái niệm về “nữ tính” như đề ra có đòi hỏi phải giới hạn trong văn học Việt Nam hay không? Nữ tính là vấn đề dân tộc hay vấn đề nhân loại? Nghĩa là ngay từ đầu phạm vi của đề ra đã không chuẩn mực. Bởi lẽ với học sinh giỏi chưa từng có giới hạn chỉ học phần Văn học Việt Nam, mà ngay trong các chuyên đề chuyên sâu cũng có học phần văn học nước ngoài. Nếu giới hạn trong phạm vi lí luận lại càng nên lấy các tác phẩm văn học nước ngoài làm chuẩn mực (điều này chắc chắn khỏi phải bàn cãi vì các học giả của chúng ta cho đến các nhà văn vẫn quen truyền thống lấy văn chương nước ngoài Đông Tây Kim Cổ làm chuẩn mực).
Còn ra đề kiểu chấp nhận cho các em nói chung chung, đại khái: thật sự thành công nghĩa là tác phẩm phải đạt đến giá trị Chân – Thiện – Mĩ… Nữ tính là tập hợp Công – Dung – Ngôn – Hạnh; phụ nữ phải là người bà, người mẹ, người vợ, người chị, người em gái, người tình… thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi cách nhìn phiến diện. Còn đòi hỏi các em phải nắm vững các khái niệm “nữ tính”, “mẫu tính” thì e rằng các em khỏi cần học Đại học làm gì mà học thẳng lên thạc sĩ, tiến sĩ!!! Còn trình độ phổ thông thì đưa ra khái niệm này quả thật giống như đánh đố nhau! Tôi dám đoan chắc ở 63 tỉnh thành, đưa đề này cho các giáo viên dạy chuyên cự phách làm, đố ai dám bảo đảm mình đã trình bày thật sự rõ ràng khái niệm “nữ tính”, dám cam đoan chỉ qua “một số tác phẩm” từ VHDG đến VHHĐ mà làm “sáng tỏ nhận định” được! Và tôi cũng vui lòng làm một giám khảo chấm bài của học sinh nào đạt giải Nhất của kì thi lần này mà đạt điểm tối đa còn tồn tại vô số những lỗi kiến thức! Bởi lẽ toàn bộ những tiêu chí của đề đều không đạt đến chuẩn mực cần phải có của một đề mở.
Đề mở này có hai hướng giải quyết: theo hướng lấy hình tượng phụ nữ làm chuẩn thì phải bắt đầu từ khái niệm hình tượng văn học để hình thành tiêu chí cho hình tượng phụ nữ; hướng thứ hai là xem như một đề lí luận văn học, lấy cơ sở là hình tượng phụ nữ để làm rõ khái niệm nữ tính trong văn học. Nhưng dù giải quyết theo hướng nào thì cũng không trọn vẹn bởi lẽ yêu cầu phân tích để làm sáng tỏ không chuẩn! Nếu lấy điểm xuất phát là “Văn học dân gian” thì phải có mệnh đề tiếp theo là “đến Văn học viết” thì mới bảo đảm tính khái quát tổng hợp của đề. Còn yêu cầu như đề này thì dẫn chứng không thể là “một số” (được hiểu ngầm là từ 2 trở lên) mà bắt buộc phải có Văn học dân gian – Văn học hiện đại! Mà như vậy thì sẽ thiếu sức bao quát! Vì mỗi bộ phận văn học, mỗi khuynh hướng, mỗi trào lưu, mỗi giai đoạn văn học lại có những chuẩn mực riêng về nữ tính, không thể đánh giá toàn diện được! Chưa kể là dẫn chứng hoàn toàn có thể lựa chọn cả VHDG nước ngoài, VHHĐ nước ngoài (nàng Sita trong Ramayana hay Phăngtin trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền – Những người khốn khổ đều đạt đến phẩm chất của hình tượng văn học thật sự thành công!).
Một đề ra không chuẩn như vậy, sẽ không thể tìm ra những bài văn thực sự hay! Và người ra đề chưa đủ tầm bao quát và hình dung không nổi thực trạng học sinh giỏi Văn sẽ phải khổ sở như thế nào với kiểu đánh đố này!

Trần Hà Nam

Vài lời về bài viết của ông Hoàng Tiến


Tôi đã đọc kỹ bài viết của thầy Nguyễn Đăng Na và bài phản biện của ông. Với những lý lẽ ông đưa ra nhằm quy chụp PGS.TS Nguyễn Đăng Na, với dụng ý chứng minh cho những lời mạt sát không thương tiếc của ông với một người làm khoa học, tôi chỉ là một giáo viên bình thường đang dạy cho học sinh THPT cảm thấy khó mà chấp nhận nổi! Hơn nữa lối trích dẫn đầy ác ý của ông khiến cho ai chưa đọc bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na dễ bị dẫn dụ theo ngôn từ đóng mác “nhà văn”, trong đó có những biện minh theo tôi là mang tính ngụy trá và hồ đồ. Nên có vài lời thưa cùng ông!
Trước hết cần xác định lại cho ông tinh thần thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm theo lời của Phan Huy Chú được dẫn trong sách giáo khoa: “Văn chương ông tự nhiên nói ra mà thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời”. Lại nhắc thêm cho ông một điều cũng được ghi lại trong sách giáo khoa lớp 10: “Làm quan được tám năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần. Không được chấp thuận, ông bèn xin thôi làm quan và về sống ở quê nhà.” (tr.170) và “Tuy ở ẩn nhưng ông vẫn thường được vua nhà Mạc vời đến triều tham gia chính sự” (tr.171). Phải nói rõ như vậy vì những kiến thức trong phần Tiểu dẫn không phải ngẫu nhiên đưa ra mà để cho học sinh có hướng tiếp cận đúng con người của Nguyễn Bỉnh Khiêm. “Chí để ở sự nhàn dật” thế nhưng cái gọi là nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thân nhà mà tâm không nhàn!
Bàn lại với ông về cách tiếp cận Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước hết tôi muốn chỉ cho ông thấy ông tự mâu thuẫn với chính mình, khi thừa nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm “là bậc thầy nho, y lý, số” nghĩa là điển hình cho kẻ sĩ mẫn tiệp và cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm “cứ gì phải bám vào ai,. Thế mà sau đó ông khẳng định luôn với ý chê trách: “Thời xưa, kẻ sĩ luôn miệng Khổng tử viết, Mạnh tử viết…”. Ô hay! Vậy thì ông xếp Nguyễn Bỉnh Khiêm vào vị trí nào? Chả lẽ nói cụ dân dã thì tước luôn vị thế kẻ sĩ, cho cụ làm nông dân cho tiện việc bình bậy của ông hay sao? Hay chẳng qua ông muốn mượn cụ Trạng Trình để tiện việc chửi xéo cái mà ông gọi là “tư tưởng nô lệ nước ngoài”(không biết ngày xưa ông có tuyệt đối không trích dẫn ông Ốp, ông Ép, ông Mao, ông Chu khi viết không? Tôi không phải là ông nên tôi không biết!)
Cái tinh tế của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là ở chỗ đàng sau lời nói giản dị tự nhiên là sự uyên thâm của bậc túc nho đấy! Bám sát văn bản theo kiểu của ông thì chỉ sa vào bình tán, hiểu ngô nghê văn bản mà thôi! Cách hiểu Một mai, một cuốc, một cần câu trong bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na xuất phát từ mục đích muốn tầm nguyên tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, không phải là không có lý, đặc biệt là ý liên hệ với bài Trúc can trong Kinh Thi mà ông đã tảng lờ không trích: “Hai câu đầu cô gái hát “Địch địch trúc can, Dĩ điếu vu Kì” nghĩa là “Cành tre dài von vót, để câu ở sông Kì”. Đấy là cần câu để câu, chứ không phải là công cụ lao động để bắt cá” (TCHN – tr.70). Còn ông khăng khăng bắt cụ Trạng phải thành một nông dân thứ thiệt và xuyên tạc ý về cần câu trong bài viết của thầy Na là “một cách thức tự giới thiệu mình để bậc quân vương để mắt tới”. Một sự xuyên tạc với tâm địa không minh bạch, vì ý nghĩa của những vui thú mà Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng tới được PGS.TS Nguyễn Đăng Na nói rõ “Vui thú mà Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn là, tự tại ung dung, một mình – chỉ một mình tôi – giữa đất và trời; không làm bề tôi đội đầu Thiên tử, cũng chẳng làm bạn với các chư hầu vì họ đang đội Thiên tử trên đầu; tự đào giếng mà lấy nươc uống; tự cầy cấy mà lấy thứ ăn; câu chẳng cần mồi, chẳng lưỡi câu mà các bậc thánh hiền như Vũ vương tự tìm đến Khương Tử Nha” (tr.70). Viết như vậy là rõ ràng, thể hiện được cái chí của Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn mắc vào vòng danh lợi, không cúi luồn mà vẫn đau đáu tấm lòng muốn giúp nước.
Ông Hoàng Tiến lấy Nguyễn Khuyễn để so sánh với Nguyễn Bỉnh Khiêm để nhấn mạnh “Không được cá cũng không sao. Di dưỡng tinh thần là chính” thì hiểu quá đơn giản cả Nguyễn Bỉnh Khiêm lẫn Nguyễn Khuyến! Nghĩa là ông trói hai ông ở hai thời đại khác nhau, hai tâm trạng khác nhau để làm cái việc vô tính hoá hai ông, minh hoạ nhàn nhạt cho cái thuyết “độc thiện kỳ thân” của nhà Nho! Cả hai cụ tầm lớn hơn thế nhiều, ông nhà văn nói thế, các cháu học sinh non nớt không khéo nghĩ hai cụ đại nho này đều về quê làm nông dân cày sâu cuốc bẫm, câu cá kiếm cơm thì cơ khổ cho hai cụ.
Ông Hoàng Tiến còn tỏ ra hồ đồ và vội vàng, khoe kiến thức, dẫn giải cho PGS.TS Nguyễn Đăng Na về hình nhi hạ, hình nhi thượng. Rồi mách nước có 11 chữ giá… cũng không ngoài mục đích tự tôn ông lên, mạt sát người khác một cách lố bịch, mà chẳng có gì mới mẻ hơn. Ông không buồn để ý đến lập luận trong bài viết, mà chăm chăm lọc tỉa ý để bóp méo theo cách hiểu của ông. Bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na lưu ý rõ tính “nhất khí” của thơ Đường luật, để bàn về mối liên hệ giữa phần Mở và phần Luận của bài thơ. Ông thì chăm chăm “bám sát văn bản” để xuyên tạc, mà không nhận thấy dụng ý bình chữ giá trong tổng thể bài viết đã nói rõ. Mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu thì cũng đừng tán dương những cách hiểu bình tán (bản thân nhà thơ Xuân Diệu tán hay nhưng nhiều khi đi quá xa văn bản, dẫn đến hiểu sai!). Một bài nghiên cứu sâu mang tính chuyên ngành như bài của PGS.TS Nguyễn Đăng Na thì ông nên nghiền ngẫm kỹ rồi hãy phản bác, nó mới thật sự tôn ông lên, còn vì trái ý mình, đọc phải những lời trong bài viết mà ông cảm thấy bị chạm nọc, vội vàng giãy nảy lên và cho người khác là tâm thần thì tôi thấy ông là người dễ nổi nóng vô cớ quá ông nhà văn ạ! Kẻ dốt này đọc bài viết của bậc thầy như Nguyễn Đăng Na sáng ra nhiều điều, tự nhủ phải biết dẹp tự ái vặt hay cao đạo để khôn lên. Còn chân lý khoa họa, tư cách nhà nghiên cứu thì không phải vì mấy lời mắng mỏ của ông nhà văn mà bị bóp méo, bị hạ thấp! Dù cho lời ấy có đăng trên website của Hội nhà văn cũng chẳng làm sang thêm cho ông, bởi một người đáng trọng như PGS.TS Nguyễn Đăng Na không có thì giờ để đọc những lời bậy bạ. vô văn hoá như thế!

Trung ngôn nghịch nhĩ, tôi có vài lời hóng hớt vậy thôi, ngỏ vài lời trên ÔNG MẠNG, may ra ông có đọc và mắng thêm vài câu cũng chả sao!
Lãng tử Trần Nam