NGÀY CỦA MẸ – NGHĨ VỀ "ĐÊM ĐẠI DƯƠNG" (V.HUGO)


“Ôi biết bao thuyền viên, thuyền trưởng
Buổi ra đi, vui sướng đường xa
Cuối chan trời u ám đã thành ma
Đã biến mất, đớn đau số phận
Đêm không trăng, giữa biển không cùng
Chôn vùi thân dưới sống muôn trùng…”
Mẹ ơi, không phải tự dưng con nhớ những câu thơ này đâu! con nhớ những lời của thầy con, người đã từng nói về ý nghĩa sâu sắc và nhân văn của bài thơ. Con vẫn còn chưa dứt khỏi bao nhiêu đau đớn day dứt về sự ra đi của thầy, người thuyền trưởng tài hoa đã lái con tàu văn chương đưa bao nhiêu thế hệ học trò đến bến bờ tri thức.
Đêm đại dương của Victor Hugo – đại văn hào Pháp là bài thơ để lại nhiều ám ảnh trong con về quy luật của sự lãng quên! Những đau thương quặn thắt rồi cũng sẽ qua đi, đến một ngày:
“Cả gốc liễu mùa thu trút lá
Và cả người hành khất bên cầu
Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu…”
Ngày mai là 13 tháng 5, Ngày của Mẹ mà chúng con vắng Mẹ. Tháng 5 là tháng nhiều kỉ niệm nhất với chúng con, là tháng anh em con chào đời, đem niềm vui và những nhọc nhằn cho suốt quãng đời tiếp theo của mẹ. Chúng con khôn lớn, trưởng thành trong tình yêu thương vô bờ bến của mẹ. Chỉ có trước mẹ chúng con luôn cảm thấy mình vẫn như đứa trẻ lớn xác, vẫn cứ vô tư đùa giỡn như những đứa trẻ. Ngày mẹ đau, có khi ép mẹ ăn như dỗ trẻ con, mà có biết đâu chính chúng con mới thật trẻ con không hiểu nổi mẹ đã phải gắng sức như thế nào để chống chọi lại bệnh tật để chứng kiến con cháu trưởng thành.
Ngày giỗ Mẹ năm nay, chị vào. Đã hơn 60 tuổi rồi mà trước mộ mẹ, chị vẫn hồn nhiên như hồi xưa, vẫn tính tồ tồ hay bị mẹ mắng! Chúng con là những đứa trẻ đầu bạc, mẹ nhỉ? Vậy mà cứ hát “lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào…”. Có lẽ chính câu hát này khiến con chợt liên tưởng về “Đêm Đại Dương” mỗi khi nghĩ về sự còn – mất, những đau đớn tiếc thương rồi sẽ qua đi, một ngày sẽ cảm thấy trong âm vang sóng biển lời vỗ về an ủi cho con vượt lên bao khó khăn trắc trở, khi một mình đối mặt với đời. Biển giữ lại tất cả những kỉ niệm. Lòng mẹ bất tử như biển cả, vẫn đêm ngày hiện hữu bên chúng con. Con chợt ngộ thêm một điều từ bài thơ mà thầy con hằng tâm đắc: khi ta sống trong yêu thương, lòng ta cũng như muốn hòa cùng đất trời cao rộng, để theo nhịp sóng ru mãi khúc thương yêu đến muôn đời. Chết là một sự hóa thân, tan hòa vào sóng, là hiện hữu của quá khứ vào hiện tại. Và nối tiếp cho những nhịp sóng khác, vĩnh viễn, tiếp nối đến tương lai. Bây giờ, con mới ngộ thêm vì so người ta thường ví là “trời nhân, biển ái”!
Vậy nên con phải biết sống yêu thương nhiều hơn nữa, phải không mẹ?
Thầy truyền cho con bài học, mẹ là hiện hữu của bài học đó!
Và con hiểu, những người yêu thương sẽ không bao giờ mất đi! “Thác là thể phách, còn là tinh anh!”. Người còn lại giữa thế gian phải truyền cái tinh anh ấy đến nhiều người, đến thế hệ sau, và như thế, sẽ lưu giữ mãi bóng hình yêu thương vĩnh viễn.
Con thấu đạt chân lý này, cũng có nghĩa những người con yêu thương kính trọng như Mẹ, như Thầy vẫn chưa bao giờ rời xa, vẫn giúp con càng lúc càng trưởng thành, xứng đáng với tình yêu thương như biển mênh mông gửi lại với đời này, để biết “Yêu thương là Sức mạnh!” (V.Hugo).
CON VỪA NGẪM TỪ BÀI THƠ THẦY GIẢNG
CHỮ THƯƠNG YÊU ĐƠN GIẢN ĐẾN VÔ CÙNG
NHƯ BIỂN CẢ VẪN NGÀY ĐÊM VỖ SÓNG
VƯỢT LÃNG QUÊN BẰNG SỨC MẠNH BAO DUNG

CON CHỢT HIỂU MẸ NGÀY NGÀY LẶNG LẼ
CỨ BÊN CON DÙ CON CỨ VÔ TÌNH
CON LẠI HÁT KHÚC CA VỀ LÒNG MẸ
NHƯ BIỂN MÊNH MÔNG, NHƯ BIỂN THÁI BÌNH…

KHI THẤU NGHĨA YÊU THƯƠNG, NÊN GÌN GIỮ
YÊU THƯƠNG LÀM ĐAU KHỔ SẼ PHÔI PHAI
YÊU THƯƠNG GIỮ NGƯỜI THÂN YÊU CÒN MÃI
MẶC THỜI GIAN TẤT CẢ DẪU TÀN PHAI…
13.5.2012
NGÀY CỦA MẸ
T.H.N

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Cái Đẹp trong xiềng gông!?


Giảng dạy bao nhiêu năm bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tuôn ra không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp về đối lập Bóng tối – Ánh sáng, về hiện thân của cái Tài – cái Đẹp – cái Thiên lương, bị ám không ít bởi bài viết của thầy Nguyễn Đăng Mạnh hết lời ca ngợi con người vô úy… Thế nhưng, khi tự mình đọc lại tác phẩm, mới thấy một tình tiết đáng suy ngẫm, không dám phán bừa mà từ sự cẩn trọng cần thiết của cái gọi là “hoài nghi khoa học”, viết để cùng trao đổi với những người quan tâm.

Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ được  nhiều người tâm đắc. Bản thân tôi từng giảng say sưa về “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” khi Huấn Cao – người tử tù – đang dồn hết tâm lực viết những dòng chữ cuối cùng trên “tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Đó là thời điểm để cho ba con người – ba đốm sáng nhỏ cô đơn hội tụ trong tình yêu cái Đẹp… Nét chữ của Huấn Cao là hiện thân của “hoài bão tung hoành một đời con người” để cho một người cả đời sống trong bóng tối và sự sợ hãi đã  được đón nhận trọn vẹn Cái Đẹp ấy trong khoảnh khắc thốt lên lời nghẹn ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”…
Có nghĩa là theo chiều hướng phân tích xưa nay, tác phẩm là một đỉnh cao tư tưởng Nguyễn Tuân, hàm chứa quan niệm Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám về Cái Đẹp. Cụ Nguyễn được tán tụng nhiều, nên có lẽ khi nghe phản biện này không biết Cụ có về vặn cổ thằng lắm chuyện hậu sinh này không? Nhưng không nói ra thì ấm ức, mà cũng chưa thấy ai nói! Thôi thì có bị chửi là dốt, là ngạo mạn như Trần Đăng Khoa cũng đành!!!
Đoạn khiến cho kẻ hậu sinh này băn khoăn là khi nhà văn đặc tả Huấn Cao trong vai trò người nghệ sĩ sáng tạo cái Đẹp: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồngtiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…“.
Bây giờ đọc kĩ, ngẫm lại, thấy sao mà người-sáng-tạo-Cái-Đẹp bị đối xử một cách tàn tệ đến thế! Vì trước đó, viên quản ngục được biết đến như là người có “lòng biết giá người, biết trọng người ngay”, đã từng bị Huấn Cao xua đuổi mà chỉ biết im lặng lui ra với lời “Xin lĩnh ý”! Nhân vật này cũng từng tự biết mình khi so với Huấn Cao “những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”! Ông ta cũng biết để có chữ của Huấn Cao cho thỏa sở nguyện thì không thể dùng quyền lực hay dụ dỗ mà có được nên rất khổ tâm…
Ấy vậy mà trong buổi tối cuối cùng, viên quan coi ngục kia lại để tâm hết vào nét cỉhữ Huấn Cao mà quên khuấy phải đối xử thật sự trọng thị với người cho chữ. Ông ta chỉ quan tâm đến nét chữ – “báu vật trên đời” mà để cho người nghệ sĩ sáng tạo vẫn phải “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”! Quả là một tình tiết vô lý, nếu như không muốn nói là vô đạo, trong hoàn cảnh chỉ có ba người: Huấn Cao – quản ngục – thầy thơ lại trong căn buồng nhà ngục! Phải hiểu ra sao dụng ý của cụ Nguyễn Tuân đây?
Thử đưa ra vài cách cắt nghĩa:
– Cụ Nguyễn muốn “tô đậm nét độc đáo phi thường” nhấn mạnh bằng thủ pháp đối lập Cái Đẹp với Cái Xấu, Tội ác… nên sẵn sàng tạo một khung cảnh đối lập con người – hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn, bất chấp thực tế!
– Cụ Nguyễn muốn nói lên tình trạng sáng tác của người nghệ sĩ trong chế độ thực dân phong kiến, sáng tạo cái Đẹp trong gông xiềng, nhưng không muốn cái Đẹp tồn tại trong nhà ngục (như lời Huấn Cao nói ở phần sau: “Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”).
Nếu lí giải theo cách đó, có lẽ sẽ đẹp lòng những ai muốn đề cao Huấn Cao, đề cao Cái Đẹp! Nhưng nếu như vậy thì ta phải đánh giá ra sao đây về nhân vật quản ngục?
Ông ta là người đứng đầu bộ máy đàn áp, là kẻ có thừa mánh khóe và luôn cẩn trọng trong công việc mẫn cán của một viên quan coi ngục. Thử xem ban đầu ông ta sợ hãi tái mặt như thế nào khi nghe lời nói buột miệng của thầy thơ lại: “Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn.”. Đối xử với tù, ông ta cũng cùng một giuộc với bọn lính cậy quyền uy. Bằng chứng thầy tớ hiểu nhau là khi “Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khóe hành hạ thường lệ ra” (nhưng hôm ấy lại là Huấn Cao – người sở hữu “báu vật” – nên ông ta đối xử khác ngày thường mà thôi!). Thủ đoạn của viên quan coi ngục này cao hơn nhiều, khi ngày ngày dâng rượu thịt cho Huấn Cao xơi (nhưng hậu quả là bị bẽ mặt khi dùng trò mua chuộc bị Huấn Cao lật mặt!). Cuối cùng, vì sự thèm khát có nét chữ Huấn Cao, viên quản ngục này đã bất chấp cả phép nước, cùng đồng phạm là thầy thơ lại táo gan xin chữ Huấn Cao trong nhà ngục – một hành động có thể mất đầu! Huấn Cao hoặc là ngây thơ, hoặc là không thèm chấp, hoặc là bao dung với quản ngục, vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của quản ngục mà bỏ qua không thèm đếm xỉa gông trên cổ và xiềng dưới chân mình! Trớ trêu và bi hài thay cho người nghệ sĩ vào phút sáng tạo cuối cùng của mình đã giao báu vật cho một kẻ vô đạo, lại nói với hắn những lời như tri âm tri kỉ!
Nhiều người say sưa với ý tưởng đề cao quản ngục như là người biết yêu Cái Đẹp thật sự, thậm chi cho rằng hành động chắp tay cảm động thốt ra lời “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!” chẳng khác nào cái chắp tay của Chu Thần Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu chắp tay trước hoa mai). Giả sử không có cái chi tiết cụ Nguyễn Tuân đưa vào “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng…” thì kẻ viết bài này cũng tin như thế! Còn chi tiết này tồn tại trong tác phẩm thì xin phép tất cả những ai yêu mến đề cao viên quản ngục mà thốt lên rằng : viên quản ngục này là một thằng đểu thượng thừa!
Bởi nếu là một người đã thật sự vượt qua sự sợ hãi quyền uy và tội ác,  thật sự hết lòng vì Cái Đẹp, thì trước hết phải đối đãi với Huấn Cao như với một kẻ sĩ thật sự! Chua chát thay, một kẻ như vậy mà lại là “biết đọc vỡ nghĩa sách Thánh Hiền” sao? Tất nhiên trong hoàn cảnh ấy, không thể mời Huấn Cao về nhà mà khoản đãi rượu thịt, đốt trầm thắp bạch lạp cho Huấn Cao viết chữ, vì có thể làm cho tội vào thân mà chữ cũng mất! Nhưng nơi nhà ngục, ông ta có toàn quyền sinh sát, có thể tháo gông mở xiềng, sao ông ta không làm? Chỉ có thể kết luận: đến giờ phút ấy, ông ta vẫn là một ngục quan cẩn trọng, sợ phép nước, có biến cố gì thì có thể phủi tay chối tội! Còn được nét chữ Huấn Cao rồi, tiếc gì vài giọt nước mắt cá sấu mà không nhỏ ra cho đẹp tư thế người “biệt nhỡn liên tài”? Không thể nghĩ khác được: đây là kẻ có thủ đoạn đối nhân xử thế bậc thầy, không chỉ lừa được Huấn Cao, lừa thầy thơ lại mà lừa…cả bao người đọc dễ tính! Không biết cụ Nguyễn có định dựng chân dung một ngụy quân tử ở viên quản ngục không mà để cái chi tiết Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ”
Cụ Nguyễn viết về thú chơi thư pháp, ắt hẳn phải biết đầy đủ những nghi lễ thư pháp đích thực để có nét chữ thể hiện trọn vẹn thần thái khí phách người viết chữ! Hay cụ cũng muốn phút giây ấy Huấn Cao chơi ngông không thèm tháo gông mở xích? Liệu nét chữ ra đời trong khi cổ vướng gông, chân vướng xiềng có thể thỏa chí tung hoành không?
Một chi tiết như vậy tồn tại trong văn bản, nếu như cụ Nguyễn Tuân muốn đề cao quản ngục và Huấn Cao, thì tiếc thay, “yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau”!
TRẦN HÀ NAM

>LẠM BÀN VỀ PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI HSG QUỐC GIA NGỮ VĂN 2011


>

Đề cho : Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. Và yêu cầu phân tích một số tác phẩm từ VHDG đến văn học hiện đại để làm sáng tỏ nhận định. Một đề văn như thế này, xác định rõ khái niệm đã đổ máu mắt, huống chi phải làm một tập hợp từ cả hai bộ phận văn học, phải làm sao bao quát cả văn đến thơ, kịch… và phải giải quyết gói gọn trong khoảng thời gian nhiều nhất là 150 phút (bời lẽ câu NLXH 8 điểm cũng không thể viết dưới 30 phút được!) trong tổng thời gian 180 phút.
Thực ra khái niệm tính nữ trong văn chương đã râm ran từ những năm bắt đầu có sự chuyển mình, đổi mới văn học sau 1986. Tuy nhiên, nâng tầm lên một vấn đề có ý nghĩa lí luận thì lại không phải là dễ dàng. Chưa kể khái niệm về “nữ tính” như đề ra có đòi hỏi phải giới hạn trong văn học Việt Nam hay không? Nữ tính là vấn đề dân tộc hay vấn đề nhân loại? Nghĩa là ngay từ đầu phạm vi của đề ra đã không chuẩn mực. Bởi lẽ với học sinh giỏi chưa từng có giới hạn chỉ học phần Văn học Việt Nam, mà ngay trong các chuyên đề chuyên sâu cũng có học phần văn học nước ngoài. Nếu giới hạn trong phạm vi lí luận lại càng nên lấy các tác phẩm văn học nước ngoài làm chuẩn mực (điều này chắc chắn khỏi phải bàn cãi vì các học giả của chúng ta cho đến các nhà văn vẫn quen truyền thống lấy văn chương nước ngoài Đông Tây Kim Cổ làm chuẩn mực).
Còn ra đề kiểu chấp nhận cho các em nói chung chung, đại khái: thật sự thành công nghĩa là tác phẩm phải đạt đến giá trị Chân – Thiện – Mĩ… Nữ tính là tập hợp Công – Dung – Ngôn – Hạnh; phụ nữ phải là người bà, người mẹ, người vợ, người chị, người em gái, người tình… thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi cách nhìn phiến diện. Còn đòi hỏi các em phải nắm vững các khái niệm “nữ tính”, “mẫu tính” thì e rằng các em khỏi cần học Đại học làm gì mà học thẳng lên thạc sĩ, tiến sĩ!!! Còn trình độ phổ thông thì đưa ra khái niệm này quả thật giống như đánh đố nhau! Tôi dám đoan chắc ở 63 tỉnh thành, đưa đề này cho các giáo viên dạy chuyên cự phách làm, đố ai dám bảo đảm mình đã trình bày thật sự rõ ràng khái niệm “nữ tính”, dám cam đoan chỉ qua “một số tác phẩm” từ VHDG đến VHHĐ mà làm “sáng tỏ nhận định” được! Và tôi cũng vui lòng làm một giám khảo chấm bài của học sinh nào đạt giải Nhất của kì thi lần này mà đạt điểm tối đa còn tồn tại vô số những lỗi kiến thức! Bởi lẽ toàn bộ những tiêu chí của đề đều không đạt đến chuẩn mực cần phải có của một đề mở.
Đề mở này có hai hướng giải quyết: theo hướng lấy hình tượng phụ nữ làm chuẩn thì phải bắt đầu từ khái niệm hình tượng văn học để hình thành tiêu chí cho hình tượng phụ nữ; hướng thứ hai là xem như một đề lí luận văn học, lấy cơ sở là hình tượng phụ nữ để làm rõ khái niệm nữ tính trong văn học. Nhưng dù giải quyết theo hướng nào thì cũng không trọn vẹn bởi lẽ yêu cầu phân tích để làm sáng tỏ không chuẩn! Nếu lấy điểm xuất phát là “Văn học dân gian” thì phải có mệnh đề tiếp theo là “đến Văn học viết” thì mới bảo đảm tính khái quát tổng hợp của đề. Còn yêu cầu như đề này thì dẫn chứng không thể là “một số” (được hiểu ngầm là từ 2 trở lên) mà bắt buộc phải có Văn học dân gian – Văn học hiện đại! Mà như vậy thì sẽ thiếu sức bao quát! Vì mỗi bộ phận văn học, mỗi khuynh hướng, mỗi trào lưu, mỗi giai đoạn văn học lại có những chuẩn mực riêng về nữ tính, không thể đánh giá toàn diện được! Chưa kể là dẫn chứng hoàn toàn có thể lựa chọn cả VHDG nước ngoài, VHHĐ nước ngoài (nàng Sita trong Ramayana hay Phăngtin trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền – Những người khốn khổ đều đạt đến phẩm chất của hình tượng văn học thật sự thành công!).
Một đề ra không chuẩn như vậy, sẽ không thể tìm ra những bài văn thực sự hay! Và người ra đề chưa đủ tầm bao quát và hình dung không nổi thực trạng học sinh giỏi Văn sẽ phải khổ sở như thế nào với kiểu đánh đố này!

Trần Hà Nam

Suy ngẫm…


Mười năm dạy trường chuyên Lê Quý Đôn.
Các thế hệ học sinh ngày đầu và thế hệ học sinh bây giờ đã thấy sự khác biệt rõ nét. Dù là 8X hay 9X thì các em có thể xem là cùng thế hệ. Thế nhưng đang có sự chuyển hóa về chất. Có thể sau này điều kiện các em đầy đủ hơn, việc vào trường chuyên không còn là nỗi băn khoăn với những học sinh thật sự có năng lực, vì cái đích duy nhất bây giờ các em hướng tới là thi đậu Đại học. Mà xem ra, môi trường hữu hiệu nhất là trường chuyên! Khác biệt trong nhận thức của 8X và 9X cũng từ đây!
Trước kia, niềm vui nhân lên trong những ngày đầu là sự ngất ngây của cả thầy lẫn trò, những cảm xúc không bao giờ quên được. Còn bây giờ, đậu học sinh giỏi là nhiệm vụ và gánh nặng của cả thầy lẫn trò. Thầy vì danh dự người dạy, trò vì áp lực bị vào đội tuyển. Đội tuyển đã không còn là niềm vinh quang số 1 mà chỉ là dịp chứng tỏ đẳng cấp dân chuyên. Nhưng khi đến đích sớm thì ngay lập tức các em muốn rời bỏ cái đích ấy càng nhanh càng tốt! Có nhiều lý do: sự thay đổi cách nhìn nhận môn chuyên, động lực vào thẳng của học sinh giỏi không còn, ít nhiều một số giáo viên, gia đình và cá nhân học sinh xem hiệu quả thực dụng là hàng đầu!!! Tuy nhiên, thật là cực hình khi lên lớp, thầy giáo cứ phải đốt cạn kiệt ngọn lửa đam mê nhưng chẳng may bị nhúng vào một nhúm giẻ ướt ỉu xìu!
Biết rằng không nên đòi hỏi một sự hy sinh cho một mục đích thiếu rõ ràng! Biết rằng mỗi thời có sự thay đổi trong quan niệm sống. Thế nhưng, với một thế hệ sớm tắt ngọn lửa đam mê cống hiến, sớm biết mùi thực dụng khá sớm, thì những gì thầy giảng trong lời văn có đủ làm các em háo hức như lớp học trò thưở xưa? Khi nghị luận xã hội trở lại với mục đích giáo dục, tăng cường kỹ năng sống cho các em, nhưng mau chóng bị biến tướng thành công thức, thành khuôn sáo, các em có đủ năng lực tiếp cận những tư tưởng đạo lý tốt đẹp, có hành vi ứng xử đẹp, hướng về những chuẩn mực CHÂN – THIỆN – MĨ như thầy cô mong đợi? Hay đang có một chuẩn mực khác, không phải từ phía nhà trường, đang hình thành một cách tự phát, đang bủa vây môi trường sống học trò, khiến cho những vấn nạn học đường bùng phát, khiến các em tự xây dựng  cho mình những vỏ bọc biện minh cho một kiểu sống mang đậm màu sắc thực dụng như hiện nay? Đại đa số các em hay chỉ “môt bộ phận”? Có phải chăng người thầy ngày càng trở nên bi quan trước chính học trò mình?
Tại sao? Tại sao? Đến bây giờ thầy vẫn đang đi tìm một lời giải đáp!

Bình thơ: Thời gian


Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh

Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm

Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?

Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân.
H.M.T
(Đau thương – phần Hương thơm)
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những hiện tượng đặc sắc của phong trào Thơ Mới Việt Nam (1932 – 1945), đặc biệt ở tập thơ Đau thương (tức Thơ Điên) đã có một sự kết hợp độc đáo của một tâm hồn thống khổ vì bệnh tật, tình duyên, bị tách biệt khỏi cuộc đời với một khả năng trác tuyệt của một cây bút sáng tạo cách tân để tạo thành những bài thơ cho đến nay vẫn chưa thể giải mã được cặn kẽ. Đứng từ góc độ thi pháp học, người viết xin nêu một vài suy nghĩ nhỏ về thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm cụ thể: bài thơ Thời gian , nằm trong phần Hương thơm của tập thơ Đau thương.
Trước khi sáng tác thơ mới, Hàn Mặc Tử đã nổi tiếng là một người làm thơ Đường luật điêu luyện. Bởi thế, chắc chắn nhà thơ không hề xa lạ với những quan niệm thời gian đã thành khuôn mẫu, chuẩn mực truyền thống của luật thơ có ảnh hưởng đến cả hàng nghìn năm văn học phương Đông này. Thời gian trong thơ Đường với những đặc trưng: thời gian bất biến gắn với không gian vũ trụ, những biểu tượng thời gian mang ý nghĩa ước lệ tượng trưng. Bởi thế, muốn thấy rõ dấu ấn thay đổi quan niệm nghệ thuật từ thơ cũ sang thơ mới, không thể không phân tích sự thay đổi quan niệm về thời gian trong thơ của Hàn Mặc Tử, ý thức thời gian gắn liền với cảm quan thẩm mỹ của thơ mới, với cái tôi cá nhân cá thể ý thức được sự hiện hữu cũng như muốn bày tỏ khát vọng chiếm lĩnh vẻ đẹp, bộc lộ chính mình. Lấy nhan đề bài thơ là Thời gian , phải chăng nhà thơ muốn phát biểu trực tiếp quan niệm của chủ thể trữ tình, quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn muốn phá bỏ những thành trì của thơ cổ điển?
Trước hết có thể nhận ra nhà thơ muốn hợp nhất thời gian với tình yêu và tuổi trẻ, trong sự đối lập với thời gian đã qua với thời gian hiện tại. Đó không phải là thời gian vô hình mà là thời gian đã được vật chất hoá, có thể nhận biết qua các dấu hiệu ngôn ngữ biểu trưng và sự kết hợp ngôn từ độc đáo: thời xanh, mùi vị thơm tho, ái tình. Thời gian ấy không phải của kiếp người, đời người gắn với cảm nhận nhân thế, thời thế mà cụ thể hoá trong thời gian cá thể: một ái tình! Xuất hiện ngay từ khổ thơ đầu của bài thơ là một cảm thức tiếc nuối thời gian một đi không trở lại trong cấu trúc câu hỏi “còn đâu…?” tạo nên cảm giác hụut hẫng, mất mát, không giống với sự trôi chảy thông thường mà đồng nghĩa với mất mát tuổi trẻ và tình yêu. Thực ra cảm thức về sự mất mát này từng được nhắc đến trong thơ cổ điển với tần số không ít, cả thơ Trung Hoa lẫn Việt Nam nhưng các nhà thơ xưa thường cảm nhận sự bất biến của thời gian trong quan niệm thời gian tuần hoàn của vũ trụ đối lập với thời gian đời người mất đi vĩnh viễn. Hàn Mặc Tử đã tuyên chiến với quan niệm ấy bằng thái độ dứt khoát, thách đố với những chữ đố, đừng tưởng hướng vào những người ôm ảo tưởng về thời gian vũ trụ tuần hoàn.
Bằng thái độ phủ nhận, nhà thơ đã phát biểu rõ quan niệm của mình trong khổ thơ thứ hai:
Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm
Theo cách nói này, cũng có nghĩa là không có “ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (dịch thơ Thôi Hiệu đời Đường), biểu trưng của thời gian vũ trụ bất biến, tuần hoàn. Điều đó cũng có nghĩa là không có sự hiện hữu của quá khứ trong thời gian thực tại, trong vẻ đẹp hiện thực. Tác giả định danh và liên tưởng các giá trị thời gian bằng chuỗi từ ngàn xưa – hồn xưa – cõi hư vô, nhằm khẳng định một giá trị âm. Những cái “xưa” ấy chỉ là “hư vô”, tập hợp rỗng. Cùng với hồn xưa không về nữa từ ngàn xưa – thời điểm được xác định là tự ấy đồng thời làm hiện lên một không gian trống vắng, hoang lạnh, điêu tàn, càng làm tăng ấn tượng đau thương. Vậy thì hương thơm có tồn tại trong thời gian này hay không? Cái gì còn lại khi ngàn xưa, hồn xưa đã biệt mù tăm tích?
Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?
Nếu như ở hai khổ đầu là cảm nhận về thời gian thực thì đến khổ thứ ba này Hàn Mặc Tử đã “ảo hoá” thời gian. Có một sự kết hợp rất độc đáo quan niệm của thơ lãng mạn, thơ tượng trưng với các biểu tượng của thơ ca cổ điển Trung Hoa. Nếu lớp bụi, thời gian quá khứ đánh dấu sự tan rữa của giá trị vĩnh hằng – kiên trinh như nhà thơ đã tuyên bố thì phải chăng ở khổ này ông tự mâu thuẫn với chính mình. Khác với các nhà thơ cổ điển nhận ra ở trăng sao sự đồng nhất hay tuần hoàn của thời gian vũ trụ thì Hàn Mặc Tử chỉ thừa nhận ý nghĩa biểu tượng ánh sáng – cái đẹp tồn tại vĩnh hằng mà thôi. Ánh sáng bất diệt ấy vượt qua quy luật của thời gian, thể hiện khát khao hướng về cái đẹp tuyệt đối của thi sĩ lãng mạn Hàn Mặc Tử. Ở ý thơ này, Hàn Mặc Tử cũng đối lập với một nhà thơ mới khác là Xuân Diệu (Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn – Giục giã). Hàn Mặc Tử hướng về Cái Đẹp tuyệt đối, tạo ra một địa chỉ lưu giữ vĩnh viễn vẻ đẹp thời gian trong con người hiện tại. Ngôn ngữ đối thoại như người đồng thời với Tây Thi – người đẹp thời Chiến quốc đã xác lập mối quan hệ thời gian xưa – nay một cách độc đáo, tạo thành dòng thời gian tâm tưởng, thời gian khát vọng vượt qua hư vô một cách mãnh liệt. Qua đó, nhà thơ bộc lộ cảm giác mê đắm ngất say trước vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà.
Khát vọng hướng về cái đẹp đã khiến nhà thơ rơi vào trạng thái hoang mang, khẩn cầu trước quy luật của tạo hoá. Đó cũng là mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới. Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng thường trực ý thức về thời gian gắn với cái đẹp khiến các nhà thơ mới gặp nhau trong quan niệm. Cũng giống như Xuân Diệu muốn “tắt nắng”, “buộc gió” cho “màu đừng nhạt mất ”, “hương đừng bay đi” thì Hàn Mặc Tử đã khấn nguyện da diết:
Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân
Rõ ràng một mặt nhà thơ nắm rõ quy luật vận động của thời gian, mặt khác nhà thơ lại muốn cưỡng quy luật biến đổi ấy. Đó là mâu thuẫn bên trong của tâm hồn yêu cái đẹp, xung đột giữa hiện thực và khát vọng không thể hoá giải. Nhưng đó cũng là cách nhà thơ khẳng định lòng mình, trân trọng nâng niu những khoảnh khắc thời gian hằng sống, bộc lộ cái tôi cá nhân mãnh liệt nhất. Trái tim vẫn giữ màu tươi của tình yêu, của cái đẹp đến muôn đời. Bài thơ giúp ta hiểu hơn về quan niệm thời gian, quan niệm sống của Hàn Mặc Tử, đồng thời hiểu thêm giá trị của Cái Đẹp, của Tình Yêu qua những vần thơ chan chứa tình yêu sự sống và con người của nhà thơ.

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2007
TRẦN HÀ NAM

Bình thơ: Mùa Xuân Chín


Mùa Xuân chín
(Hàn Mặc Tử )

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
1939
    Mùa xuân – qua nét phóng bút tài hoa của Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên duyên dáng và có sức cuốn hút lạ thường. Xuân như thiếu nữ mơn mởn đào tơ, tràn căng sức sống, song xuân không hiện lên rõ nét mà cứ huyền ảo, như thực như hư. Không thể chỉ đọc từng câu từng chữ mà cảm được bài thơ. Cần cảm thụ quyện hòa từng luồng cảm giác.
    Mở đầu bài thơ là một khung cảnh được từ từ hé mở. Không gian tươi mát, rõ ràng. Thi sĩ rắc màu lên từng cảnh sắc. Lấm tấm vàng của mái tranh, biếc xanh giàn thiên lý. Chợt nghe như sự sống bừng dậy, bỡn cợt, gợi tình. Câu thơ chuyển mạch rất nhanh với cách ngắt nhịp tài tình “bóng xuân sang”. Cảnh mới thực bỗng thoắt trở nên mơ hồ. Bóng xuân lướt nhanh ẩn hiện làm ta ngỡ ngàng. Mùa xuân,  qua con mắt thi nhân, phập phồng sức sống. Màu xanh tươi lan tỏa ngút mắt. Vút lên cao là tiếng hát tuổi xuân xanh. Màu sắc, âm thanh trộn đều tạo một không gian động, hồn nhiên thơ mộng. Tưởng chừng ta gặp hồn thơ Nguyễn Du qua vẻ đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời”, song ta nhận ra Hàn Mặc Tử bởi những cảm giác quẫy mạnh trong từng câu thơ, ta cảm được cái rùng mình của mùa xuân qua làn “sóng cỏ”. Thi sĩ lặng mình trước mùa xuân, chợt bâng khuâng nhủ lòng mình :
    “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”
    Câu thơ lắng nỗi buồn nhẹ nhàng, man mác cái buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại. Không giục giã, hối hả gấp gáp như Xuân Diệu “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi tình non sắp già rồi!” nhưng với hai câu thơ này Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc những đợt sóng ngầm tình cảm gấp gáp, hối hả mà duyên dáng lạ thường.
    Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng : “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc. Thấp thoáng đâu đây khuôn “mặt chữ điền” như thơ Đường; mà lại có vẻ hồn nhiên, rụt rè của cô gái tơ mới lần đầu hò hẹn. Âm thanh, cảm giác được đẩy lên cao vút, nao nức, bâng khuâng.
    Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm nguời đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:
    “Chị ấy năm nay còn gánh thóc
    Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?”
    Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương  từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha.
    Bài thơ của Hàn Mặc Tử đầy nhựa sống như tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Với mùa xuân, Hàn Mặc Tử yêu say đắm, điên cuồng : “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” – lời của thi nhân đã được đem vào trong bao áng thơ diễm tuyệt, kết tinh hương sắc làm nên một “mùa xuân chín”.

                            Trần Hà Nam
GV trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định

Bình thơ : Những giọt lệ


NHỮNG GIỌT LỆ
                            Hàn Mặc Tử
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Để khối lòng tôi cứng tợ si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã , mến chưa bưa
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

    Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống
                            HÀN MẶC TỬ

    Những giọt lệ thơ đã bắt đầu bằng những lời tự vấn lòng mình trong nỗi ám ảnh của sự sống bị hủy diệt. Một lời van, một nỗi hờn, một cảm giác đớn đau vì thất tình đã hòa tan vầng mặt trời trong máu. “Bao giờ… bao giờ… bao giờ?”, tất cả những lời ấy như một cơn lốc xoáy cuộn tâm hồn vào chốn hư vô băng cứng. Đàng sau mong mỏi được chết là khát vọng sống riết róng; đàng sau lời chối bỏ tình yêu là trái tim ngộp thở vì yêu, đàng sau sự đóng băng xúc cảm là nỗi lòng đang tổn thương, lột xác trở về vẹn nguyên hình hài ban sơ yếu ớt run rẩy vì tuyệt vọng. Cảm giác ấy chỉ có thể và phải là Hàn Mặc Tử diễn đạt thì mới thực. Bởi nó được viết ra giữa lúc thống khổ dâng tràn.
    Ở đâu, cội nguồn của những tổn thương dày vò ấy? Là hoàn cảnh “họ đã xa rồi” ư? Nhân gian bao lần nhỏ lệ biệt ly! Hay là do “khôn níu lại”? Cũng chẳng có gì mới mẻ những nuối tiếc về một điều quí giá đã mất đi. Sự lý giải nằm ngay trong ẩn số của tâm hồn :
Lòng thương chưa đã , mến chưa bưa
    Đó là khát vọng mãnh liệt nhất đã tan thành mây khói, lững lờ trong những chữ “chưa” đau đáu khát khao. Nếu dùng chữ “không” để tăng thêm cảm giác tuyệt vọng thì thực chất bài thơ sẽ bị hỏng hoàn toàn. Có lẽ Hàn Mặc Tử cũng chẳng phải đắn đo những chữ “không” – “chưa” như một thi sĩ mới học nghề muốn cường điệu hóa cảm xúc. Bởi trong giờ phút ấy, chỉ có tấm lòng thành thực nhất mới tự nhiên kết thành chữ “chưa” đầy nước mắt, ám ảnh của những hạnh phúc đã trải qua và nỗi bất hạnh thực tại. Thời gian ngưng đọng trong khoảnh khắc để nhà thơ ý thức rất rõ khoảng trống chân không vô trọng lực của lòng mình. Tất cả quay cuồng, đảo lộn, là cảm nhận :
Tôi điên tôi nói như người dại
Van lạy không gian xóa những ngày
Là sự hòa trộn:
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây tiếng khóc giọng cười chen nhau
Là nửa mê, nửa tỉnh, nửa chết nửa tồn tại :
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
Trong tiếng lòng của thi nhân, ta nghe một nỗi niềm thiết tha cùng cuộc sống, với con người. Tình Yêu ấy đâu chỉ là tình cảm lứa đôi mà còn là tình yêu lớn thi nhân dành cho đời. Vậy nên, trong giờ phút biệt ly thống khổ, nhà thơ đã bộc lộ niềm đau dâng lên đỉnh điểm.
    Khổ thơ cuối là sự diễn tả chi tiết của trạng thái thất tình, từ nhận thức đến vô thức, trong cái nhìn chập chờn ảo ảnh. Sẽ chẳng có gì đáng nói ở khổ thơ này ngoại trừ những dẫn chứng tuyệt đối chính xác cho một bác sĩ tâm thần học, nếu như không có “những giọt châu” khép lại bài thơ. Đó là phẩm chất của “những giọt lệ” tình. Để gọi về một Tình Yêu sống trọn với một “lòng thương” đang nức nở.

                                                        TRẦN HÀ NAM

Bình thơ : Trăng Vàng Trăng Ngọc


TRĂNG VÀNG TRĂNG NGỌC
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò…
Bao giờ đậu trạng vinh qui đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng.
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt, là anh dại quá:
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là trăng của Rạng Ngời.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
Hàn Mặc Tử

“Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”
Hàn Mặc Tử đang reo to lên với mọi người. Ta ngỡ như nhà thơ đang nhảy nhót mừng vui. Như điên cuồng: “Ai mua Trăng tôi bán Trăng cho”. TRăng nào của riêng Hàn Mặc Tử? Nhưng Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử lại là một góc rất riêng của thi nhân. Như mỗi một Người-Thơ đích thực đều có một vầng trăng của riêng mình. Tôi không so sánh được Hàn Mặc Tử với thi tiên Trung Hoa Lý Bạch – nhà thơ của Rượu và Trăng, bởi giữa hai nhà thơ là hai thế giới hoàn toàn khác. Điều có thể khẳng định là ở Việt Nam ta, Hàn Mặc Tử là người viết về trăng hay số một trong số những thi sĩ lãng mạn 1932 – 1945. Vầng trăng đã trở thành sự gắn bó định mệnh với nhà thơ, trăng càng viên mãn thì thân thể nhà thơ càng bị đau đớn hao khuyết. Vẻ đẹp của trăng đã được Hàn Mặc Tử cảm nhận bằng chính nỗi đau thể phách của mình. Có hiểu vậy ta mới thấy mỗi lời thơ của Hàn Mặc Tử như được rứt ra tự sâu thẳm tâm hồn.
“Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”
Trăng của Hàn Mặc Tử. Mang nỗi đau vò xé thể xác nhưng tâm hồn đầy khát vọng của nhà thơ. Lời, từng lời choáng ngợp, sáng láng. Bệnh tật đẩy nhà thơ ra khỏi thế giới người bình thường, do định kiến của xã hội. Sự đày đọa thể xác cũng không bằng sự đày đọa tinh thần nhà thơ phải gánh chịu: cảm giác cô đơn. Hàn Mặc Tử cô đơn, cô đơn khủng khiếp. Có ai làm người mà lại thích cô đơn, nên người nào lâm vào cảnh đó cũng cố tìm một nguồn chia sẻ. Với Hàn Mặc Tử, là Trăng. Phải, chỉ còn Trăng cạnh nhà thơ, an ủi tâm hồn, vực dậy trong nhà thơ những tâm tư, khát khao vươn về cuộc sống. Khát vọng lớn lắm nên những câu thơ như huyết mạch sôi lên gấp gáp: “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”. Trăng là phần đời, là sự sống của Người:
“Tôi đang cầu nguyện cho Trăng tôi”
Không chỉ là bạn tâm tình, trăng đã thành sự hoá thân: “Tôi cũng Trăng mà nàng cũng Trăng” (Huyền ảo); thành nguồn thơ bất tuyệt: “Cả miệng ta trăng là trăng” (Một miệng trăng). Người “chơi giữa mùa trăng” để thấy mình tan ra trong cảm giác hoà nhập với ánh sáng. Trăng thành nguồn sáng trong đêm tối đời Người. Cho nên ta không lấy làm lạ khi đi vào vườn thơ của Hàn Mặc Tử, ta đã được tắm trong luồng ánh sáng kỳ ảo của Trăng, trong đủ mọi cung bậc cảm giác, lúc ấm nồng, khi ớn lạnh. Nguồn Thơ, Nguồn Trăng, “Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang?”. Một khi còn khat khao giao cảm với đời, nhà thơ làm sao có thể đánh đổi vầng trăng để mua về sự tuyệt vọng?
Hàn Mặc Tử đã vào cõi vĩnh hằng tròn 50 năm*, nhưng đã mấy ai hiểu hết tấm lòng nhà thơ? Viết những câu thơ như đùa, như bỡn kia, nhà thơ đã phải sống, phải cảm “bằng máu, bằng lệ, bằng hồn”, sống đến tận cùng sự sống.
Vẫn là vầng trăng đêm đêm toả sáng, chúng ta có thể coi là chuyện bình thường. Nhưng vầng trăng đã trở thành cõi – thiêng – liêng toả sáng hồn thơ Hàn Mặc Tử: “Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời”. Ngậm ngùi cho cuộc đời thi nhân, ta càng khâm phục, kính yêu người – thơ ấy: từ căn bệnh tuyệt vọng, từ cuộc sống đau thương, vẫn vươn lên nhập cuộc với Đời, bám víu lấy Đời bằng những luồng tơ trăng mỏng mảnh. Để sống. Để kết tụ hương – thơm qua những vần thơ diễm lệ:
“Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”
Qui Nhơn tháng 8 – 10 năm 1990
T.H.N
* Thời điểm viết bài này là 1990,đến nay là gần 68 năm Hàn ra đi!

Trời đất này thực của riêng Hàn Mặc Tử


(Thời Văn số 7 – tháng 8.1995)
• Trần Hà Nam

Trong những bài thơ của mình, Hàn Mặc Tử đã có lần tự phát hiện:
Té ra ta vốn làm thi sĩ
Khát khao trăng gió mà không hay
Ta đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng nhảy
Trên sóng cành, sóng lá, cô gì má đỏ hây hây
   (Ngủ với trăng)
Có thể nói không ngoa: Hàn Mặc tử đã tạo lập được không gian thơ cho riêng mình. “Trời đất này thực của riêng Hàn Mặc Tử…” (Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân). Dường như gió bụi cuộc đời đã không thâm nhập được vào vùng “thượngthanh khí” đó. Dường như trong đó, mọi cảm xúc được thăng hoa đến tột đỉnh. Nhưng cũng trong cái mê hoặc huyền ảo vô cùng ấy, người đọc còn cảm nhận được những âm thanh rất đời thường, chỉ có điều âm thanh ấy không hề bị pha tạp vẩn đục bởi muội khói của lửa dục vọng thấp hèn:
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây
   (Mùa Xuân chín)
Những câu thơ trên đem lại cái thú cho người đọc như được lắng nghe âm điệu dặt dìu của tiếng sáo diều đồng quê, pha một chút gợi tình của câu chuyện Tiêu Sử – Lộng Ngọc cưỡi hạc thổi tiêu. Chất ngọt ngào quyến rũ của âm thanh từ lưng trời đổ xuống mang một “ý vị” riêng, làm máu chực trào ra ngoài huyết quản, hồn bật ra ngoài thể xác, trở về với vẻ trinh bạch hoang sơ ban đầu. Trời, đất, trăng, sao ấy có một sức sống riêng mãnh liệt:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!
   (Bẽn lẽn)
Sức gợi của không gian thơ Hàn Mặc Tử rất lớn. So với thiên nhiên phồn thực kia, những cảm xúc của con người mới nhỏ bé tội nghiệp làm sao! Không, đúng hơn là anh hoa của con người đã phát tiết, có độ cảm được trời đất. Tả một thôn nữ ngóng chồng, Hàn Mặc Tử đã táo tợn hơn thi sĩ đời Đường lắm lắm! Thơ Đường chỉ nói: “Yên thảo như bích ty – Tần tang đê lục chi – Đương quân hoài qui nhật – Thị thiếp đoạn trường thì – Xuân phong bất tương thức – Hà sự nhập la vi” (1) (Xuân Tứ – Lí Bạch). Ý hai câu thơ cuối của bài thơ này đã được Hàn Mặc Tử  điểm xuyết vào những nét sinh động: vẫn trăng, vẫn hoa, vẫn gió nhưng đã được thi nhân thổi vào luồng hơi đam mê rạo rực.
Choáng ngợp trong không gian thơ của Hàn Mặc Tử là ánh sáng. Lúc nhiệm mầu huyền ảo, lúc sáng láng thơm tho, lúc tưng bừng rộn rã. Ánh sáng ấy có đủ các “gam” màu nóng, lạnh, ấm, mát, hội tụ đủ tinh khí của đất trời và anh hoa cảm xúc của con người. Hãy xem trăng:
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ
  (Đà Lạt trăng mờ)
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng
  (Rượt trăng)
Và nắng:
Mây hờ không phủ đồi cao nữa
Vì cả trời xuân tắm nắng tươi
Hơi nắng dịu dàng đầy nũng nịu
Sau rào khẽ liếm cặp môi tươi…
  (Nắng tươi)
Vạn tuế, bay ơi! Nắng rợp trời!
  (Xuân đầu tiên)
Tắm mình trong không gian ánh sáng ấy, bản thân Hàn Mặc Tử cũng đã ngấm cái ngất ngây khoái lạc đến độ điên cuồng:
Tôi chết giả và no nê vô hạn
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng
  (Hồn là ai)
Ánh sáng đó đã không còn là của đất trời này, nó đã thuộc về miền-siêu-nhiên ban chứa những phép màu gột rửa mọi niềm đau. Hàn Mặc Tử trong giờ phút quằn quại thống khổ cả tâm hồn lẫn thể xác, cũng đã hướng về cõi vô biên mà khấn nguyện:
Bây giờ tôi dại tôi điên
Chấp tay tôi lạy cả miền không gian
  (Một miệng trăng)
Con người khi bị lâm vào cảnh tách biệt thế giới thường cố tự tìm một lối thoát, níu lấy một sợi dây mong manh giao cảm với đời. Hàn Mặc tử không chỉ đóng vai trò tìm kiếm mà còn tự tạo lập cho mình được cả một thế giới. Đôi lúc ta thoáng rùng mình kinh dị vì gặp trong đó những hồn, những ảo ảnh rên siết, những chuỗi cười tiếng rú vang động xôn xao trong những hàng thơ. Đó là những khi nhà thơ bị giam hãm trong nỗi tuyệt vọng của bệnh tật. Người đọc dễ bị lây lan cảm xúc của Hàn Mặc Tử. Song cũng giống như khi người ta đứng trước một đại dương đang cuồng nộ, khi bão tố qua rồi, cơn sợ hãi không còn thì người ta lại có thể đứng lặng hàng giờ chiêm ngưỡng cái hùng vĩ thẳm sâu của biển cả, nghe những nhịp yêu thương mát dịu tâm hồn. Ta cũng có thể ví những vần thơ của Hàn Mặc Tử như vậy, dù “máu cuồng và hồn điên” có réo gào dữ dội thì đằng sau vẫn đầy ngát “hương thơm” của một nguồn thơ thanh sạch vốn khát yêu thương:
Ta cho ra một dòng thơ rất mát
Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn ngôi tinh lạc xuống mười phương
   (Nguồn thơm)
“Dòng thơ rất mát” ấy phải chăng chỉ đến “Xuân như ý” mới bắt đầu? Cái chất men làm nên tình của Hàn Mặc Tử thực ra đã khởi sắc từ tập “Gái quê”. Hàn Mặc Tử làm thơ bằng một hồn say: “Tôi say tình cũng như tôi say trăng, say người thục nữ, say kinh cầu nguyện, say trời tương tư…” (Tình – thơ văn xuôi). Nguồn cảm hứng ấy khác hơn, lạ hơn so với nhiều thi sĩ cùng thời. Huy Cận gom trời đất trong nỗi sầu, chàng lãng tử Nguyễn Bính có cả “Vạn lí  tương tư, vũ trụ tình”, cái tình lấn át cái cảnh. Còn Hàn Mặc Tử là cả một vùng ánh sáng chói loà, con người lặn ngụp trong vùng sáng lạ lùng đó, thành ra “người trăng ăn vận toàn trăng cả”, “tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”, sức giao cảm giữa lòng người và trời đất đã đạt đến độ hoà nhập tuyệt đối:
Lãng tử ơi! Mi là tên hành khất
May không chết lạnh trước lầu mĩ nhân
Ta đi tìm mộng tầm xuân
Gặp ma nhà Nguyễn bay trên mây
Rượu nắng uống vào thì say
Aùo ta rách rưới trời không vá
Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng
   (Lang thang)
Đọc những dòng thơ trên, có thể chúng ta ngơ ngác vì không hiểu thi nhân định nói gì. Nhưng hãy nhập hồn vào cảm giác sẽ gặp được cái tình rất thật: khát khao về một niềm hạnh phúc. Đất trời thì vẫn đấy, trăng sao là chốn bất diệt, người ao ước được yêu thương, đến khi buồn đau thì cũng chỉ có trăng sao trời đất làm nguồn an ủi. Lệ đã khô theo mối sầu vạn cổ nhưng tình vẫn đẹp trong một cõi chiêm bao, trở thành niềm ước ao:
Tôi ước ao là tôi ước ao
Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
Như bông trăng nở, bông trăng nở
Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào
   (Ước ao)
Chỉ có trăng sao là bất diệt – Cái gì khác nữa thảy đi qua”, Hàn Mặc Tử đã viết như vậy. Cả một trời thơ nguyên vẹn trắng tinh khôi ấy đang lặng lẽ toả hương, cho mỗi người chúng ta được hái về ấp ủ một vài bông thơ thấm đẫm tinh hoa của một Người – Thơ tài hoa mệnh bạc.

         Qui Nhơn 12.1991 – 3.1995
     Đánh lại vi tính ngày 4.5.2007
              T.H.N
.—————————
(1) Bản dịch của Khương Hữu Dụng: “Cỏ Yên xanh như tơ – Dâu Tần biếc rợp bờ – Khi anh lòng quê dậy – Là em khúc ruột vò – Gió xuân chẳng quen biết – Lọt màn chi ỡm ờ?”

Trần Hà Nam – nhà mới


Lại làm tiếp một ngôi nhà blog mới! Như một chặng đường mới, đăng sáng tác mới, gặp bạn bè mới và lưu một vài cái cũ còn dùng tốt!
Nơi đây, gạt qua mọi hỉ nộ ái ố, những thành kiến thiên kiến, những cãi cọ vô bổ, hòng lưu lại chút gì đó mà bản thân tôi cảm thấy thú vị, có` ich cho bàn thân và mọi người!
Chào cả làng bằng một bài hát cho vui cửa vui nhà!