Suy nghĩ về tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân


1. Tổng quan về nghiên cứu Nguyễn Diêu và kịch bản tuồng
            Cụ Tú Nhơn Ân là cách gọi tôn kính dành cho cụ Nguyễn Diêu, hiệu Quỳnh Phủ, quê quán Nhơn Ân, Phước Thuận, Tuy Phước. Theo tài liệu của tác giả Thúy Vi đăng trên Báo Bình Định ngày 15.4.2003 thì cụ sinh vào ngày 21/7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1822), mất ngày 19-3 năm Tự Đức thứ 33 (1880). Cụ là soạn giả tuồng hát bội nổi tiếng, là thầy dạy học và nghiệp sư hát bội của hậu tổ hát bội Đào Tấn (1845 – 1907). Tuồng hát bội Bình Định nửa cuối thế kỉ XIX gắn liền với tên tuổi của hai thầy trò cụ Tú Nhơn Ân. Trong đó, các vở diễn của Quỳnh Phủ tiên sinh vẫn được lưu diễn đến tận ngày nay là Ngũ Hổ Bình Tây (Liêu), Liệu đố (Chữa bệnh ghen), Nguyệt Cô hóa cáo(còn có các tên gọi Võ Tam Tư trảm Nguyệt CôCổ miếu vãn ca, còn gọi theo lối dân dã làChém Cáo)… Năm 2011 vừa qua, công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ của nhà nghiên cứu lão thành Vũ Ngọc Liễn đã tập hợp, giới thiệu trọn vẹn văn bản của ba vở tuồng này.
            Những nghiên cứu văn bản, cảm nhận, giai thoại về cuộc đời và sự nghiệp của nhà soạn tuồng Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu phần lớn chỉ đăng rải rác, mang tính chất bàn góp hoặc điểm xuyết trong quá trình nghiên cứu tuồng hát bội nói chung, chưa có công trình nào tập hợp đầy đủ và bước đầu có ý thức hệ thống như công trình của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn. Nhưng như tác giả công trình đã trình bày về việc biên soạn trong điều kiện bệnh tật, chạy đua với thời gian nên không khỏi còn bỏ sót, nhầm lẫn hoặc chưa đầy đủ, vì vậy trong phạm vi tham luận này, người viết xin điểm thêm một vài ý kiến đánh giá trong hệ thống tư liệu cá nhân thu thập được mà chưa được nói đến trong quyển sách của Vũ tiên sinh.
Đã có nhiều giai thoại truyền tụng về mối quan hệ thầy trò đặc biệt và cũng còn khá nhiều tồn nghi về tác phẩm của cụ Tú Nhơn Ân. Cho đến nay, vở duy nhất từng được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định là tác phẩm Nguyễn Diêu là Ngũ hổ Bình Tây mà chủ yếu được khai thác ở hồi II: Địch Thanh ly Thợn. Còn các vở Liệu đố (Chữa ghen) và Võ Tam Tư trảm Hồ (tứcNguyệt Cô hóa Cáo hay Chém Cáo, Cổ miếu vãn ca) thì nhiều công trình mới chỉ nhắc tên hoặc còn phân vân về tác giả, chưa mấy ai tiếp xúc văn bản, và cũng chưa thể khẳng định văn bản lưu truyền có phải nguyên vẹn là đứa con tinh thần của Nguyễn Diêu hay không. Mà giới” mộ điệu”, những người am hiểu về tuồng cứ thưa thớt dần, e rằng di sản của cụ Nguyễn sẽ bị chôn vùi cùng lớp bụi thời gian.
Trong bài viết của tác giả Thúy Vi (Bùi Văn Lợi) trong Báo Bình Định ngày 15.4.2003 ngoài việc nêu rõ ngày tháng năm sinh của Nguyễn Diêu (nhưng chưa rõ dựa vào tài liệu nào để khẳng định chính xác thời điểm sinh và mất của cụ, có lẽ vì vậy tác giả Vũ Ngọc Liễn để trống ngày tháng năm sinh – mất mà chỉ đưa ra khoảng thời gian mang tính chất tương đối), còn phác họa chân dung của một nhà nho lấy cuộc sống an bần lạc đạo, dạy học viết tuồng làm vui qua những bài thơ được lưu truyền rộng rãi của Quỳnh Phủ tiên sinh ở Bình Định. Phần nghiên cứu về tuồng chủ yếu cũng nhắc lại giai thoại học trò Đào Tấn sửa tuồng Ngũ hổ bình Tây của thầy học.
Thứ hai, là ý kiến của tác giả Tất Thắng trong Nghệ thuật tuồng – nhận thức từ một phía (NXB Văn học 2006) có đoạn phân tích về nội dung tư tưởng và triết lý trong Ngũ hổ bình Tây và Chém cáo. Tuy nhiên, phần nói về Chém cáo cũng chưa khẳng định dứt khoát tác giả mà để khuyết danh. Có lẽ đó là sự thận trọng cần thiết khi còn những tồn nghi Đào Tấn hay Nguyễn Diêu mới là tác giả đích thực của vở tuồng này?
Một công trình tái bản của Quách Tấn – Quách Giao là Đào Tấn và hát bội Bình Định (NXB Văn hóa Dân tộc, 2007) có nhắc nhiều đến giai thoại liên quan giữa thầy trò Nguyễn Diêu – Đào Tấn. Có nhiều ghi chép, nhiều bài lặp đi lặp lại câu chuyện chữa tuồng Ngũ hổ bình Tây và bàn luận về Cổ miếu vãn ca mà “nhóm mộ điệu” (hay quan điểm của Quách Tấn?) cho rằng tác giả là Đào Tấn. Phần phụ lục thứ 7 có giới thiệu bài viết “Nguyễn Diêu” của Quách Tấn, trong đó nói kĩ về hoàn cảnh và kí thác tâm sự của cụ Tú Nhơn Ân trong vở Ngũ hổ bình Tây liên quan đến mối tình oan nghiệt với con gái phú ông thuở hoa niên, phân tích nỗi lòng Trại Ba trong lớp “thoát trướng” như một minh chứng. Đồng thời trong bài viết này cũng nói rõ hoàn cảnh sáng tác vở Liệu đố khi cụ Tú đã già yếu, như động thái tạ ơn vua Tự Đức, được vua khen  “rất mực tài tình” và ban thưởng. Tác giả nêu nhận xét vở tuồng này hay về giá trị văn chương nhưng khó diễn vì “khó hát, cốt truyện lại không có gì đặc biệt, hát thấy nguôi cho nên không được phổ biến nơi kịch trường”. Trong công trình còn tóm tắt tương đối chi tiết các vở Ngũ hổ bình Tây, Liệu đố. Còn phần tóm tắt Cổ miếu vãn ca thì nêu là do Đào Tấn nhuận sắc từ một vở tuồng cũ có tên Nguyệt Cô hóa cáo, không nêu tên tác giả.
May thay, năm 2011 vừa rồi, nhà nghiên cứu lão thành Vũ Ngọc Liễn đã vượt qua cơn tai biến nhẹ, để hoàn thành công trình biên khảo Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ (NXB Sân khấu, 2011), cung cấp một cách tương đối hoàn chỉnh ba văn bản tuồng hát bội khẳng định cụ Tú Nhơn Ân là tác giả của ba vở : Ngũ hổ bình Tây, Liệu đố, Nguyệt Cô hóa cáo với những phác thảo ban đầu về một chân dung “kẻ sĩ đất thang mộc”. Việc đi tìm và phiên âm, hiệu đính những vở tuồng hát bội còn lại của Nguyễn Diêu chắc hẳn cần đến sự góp sức của đội ngũ kế cận. Người viết bài này cố gắng khai triển thêm những gợi ý từ người đi trước, phần khảo sát văn bản chủ yếu dựa vào cuốn sách của tác giả Vũ Ngọc Liễn, góp thêm một vài suy nghĩ xung quanh tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân. Do điều kiện thời gian, chủ yếu trong bài viết này tập trung nhiều hơn cho vở Ngũ hổ bình Tây và nêu một số nhận định sơ bộ về hai vở còn lại.
Qua việc tiếp cận văn bản của một người làm công tác nghiên cứu văn học, chắc chắn mới chỉ chạm đến phần thô, cái vỏ hình thức chứ chưa thể chạm đến hồn cốt của tuồng hát bội Nguyễn Diêu, xin không bàn đến các miếng, các trò diễn hay thủ pháp sân khấu. Sức kém tài hèn, những lời bàn góp của một kẻ hậu sinh không khỏi khiến cho những bậc trưởng thượng trong làng hát bội cười chê, cũng mong được hai chữ đại xá cho kẻ trót mang lòng yêu mà chưa biết cách nào chinh phục được bộ môn kén chọn tri âm này!
2. Sự khúc xạ của các quan niệm đạo lí phong kiến trong kịch bản tuồng Nguyễn Diêu
            Thời gian cụ Tú Nhơn Ân viết các vở tuồng hát bội là thời kì sùng Nho học đến mức mê muội của triều đình nhà Nguyễn (theo Các triều đại Việt Nam – Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng). Tự Đức là ông vua mê tuồng, nhưng căn cứ vào nhiều tài liệu thì dường như tuồng hát trong cung đình hoàn toàn khác về cảm hứng, đề tài so với tuồng trong dân gian. Cho nên nếu như phân loại, có thể nói, các vở tuồng của cụ Tú Nhơn Ân thuộc dòng tuồng dân gian, có đời sống riêng, ít chịu sự gò bó tư tưởng như các vở thuộc đề tài quân quốc. Hơn thế, nhìn vào các tác giả kịch bản đồng thời hoặc thế hệ hậu sinh, phần lớn là các trí thức Hán học uyên thâm, những ông tiến sĩ, cử nhân, tú tài nhưng dấu ấn quan phương có phần khá nặng trong đề tài, chủ đề. Từ Nguyễn Diêu đến Đào Tấn chính là quá trình biến chuyển trong đề tài, cảm hứng về các đề tài hiện thực và chịu sự chi phối của quan niệm đạo lí dân gian. Tuồng hát có sức sống mãnh liệt vào buổi ấy chính vì nói thay cho những tâm tư, tình cảm của quần chúng. Trong Ngũ Hổ Bình Tây, các chuẩn mực Trung – Hiếu vốn đứng đầu trong nhân luân theo quan niệm Nho giáo đã bị chữ Tình lấn át, mà độc đáo hơn chữ tình ấy đã vượt thoát khỏi ràng buộc tư tưởng phong kiến. Trại Ba vì chồng mà vi phạm chữ Hiếu với cha, cũng là quốc vương Khiết Đan, vậy là cũng vi phạm chữ Trung. Vậy mà vua Khiết Đơn cũng sẵn sàng tha thứ vì tình cha con. Ở đó, tình cha con, nghĩa vợ chồng đã hoàn toàn thắng thế. Địch Thanh khi bị Trại Ba chất vấn đã hoàn toàn đuối lí trước những bắt bẻ sắc sảo của phu nhân. Chữ Tình chi phối toàn bộ các hành động nhân vật.
            Hãy xem trong hồi I của Ngũ hổ Bình Tây, các hổ tướng cùng Địch Thanh khi đi đánh Tây Liêu đã phát ngôn rất tự đắc về vai trò kẻ chinh phục. Giọng điệu các nhân vật rặt một kiểu khẩu khí “trung quân báo quốc”, cao ngạo vai trò nước lớn. Hơn thế, khi giao chiến cùng Trại Ba thì rặt một điệu khinh thường nữ nhi. Chẳng hạn, Lưu Khánh ỷ thị tài phép, lớn tiếng thóa mạ Trại Ba:
Đã gặp tay nam tử
Chớ múa miệng nữ nhi
Chẳng thẹn mình rằng phận ngoại di
Lại muối mặt khoe tài cùng trung quốc gớm à!
            Lưu Khánh bị đả bại, đến Trương Trung, Thạch Ngọc khi đứng trước tình thế nguyên soái Địch Thanh phân vân vì lỡ đánh nhầm Đơn bang, lại nhơn nhơn dương oai diễu võ, tự ví mình như Hoắc Khứ Bệnh diệt trừ Hung Nô:
Thưa nguyên soái! Hễ là trai thì
            Chí khí oanh oanh liệt liệt
Chớ như Tử sanh hữu hữu vô vô
            Có thanh giặc Hung Nô
            Mới biết tài Khứ Bệnh [1]
            Ai dè, tứ tướng huênh hoang khoác lác thảy đều bại dưới tay Trại Ba, quả thật tình thế đảo ngược nơi chiến trường này đem lại cảm giác khinh khoái và làm cho nguyên soái Địch Thanh kinh hồn táng đởm, thân chinh giao chiến cùng Trại Ba phải hạ giọng, buột miệng khen tài công chúa Đơn bang. Ngũ hổ tướng phút chốc thành những con chuột nhỏ bị mèo vờn. Trại Ba thả sức tung hoành, giăng bẫy lưới tình trửng giỡn Tống trào nguyên soái! Giao chiến với danh tướng thượng quốc, Trại Ba chẳng coi lời khẩu khí ra gì, bắt tướng như trở bàn tay, muốn giết muốn tha tùy ý ! May mà Trại Ba thấy Địch Thanh đẹp trai, nên cũng phúc cho ngũ hổ tướng được toàn mạng :
Quân ! Thượng tù Địch Thanh
Hãy dung đó mượn hồn ít bữa
Sẽ chờ ngày lấy phách năm chàng
Chừ thời giam tại ải quan
Trạch nhật điệu hồi Đơn quốc.
            Cái chất hài hước của kịch bản Ngũ hổ bình Tây nằm ở đây ! Tiếng là ngũ hổ, nhưng lại thành một xâu tù, bị đả bại bởi một nữ nhi, đã vậy vô tù xa còn cãi nhau ỏm tỏi. Hỡi ôi ! Thể thống thiên triều trật ề thành một màn hài kịch nhốn nháo cuối hồi thứ nhất. Hào khí nước lớn đã thành trò giễu nhại, khi thất bại thì đổ thừa « Cớ sự ni cũng bởi anh Tiêu – Hoạn nạn ấy ở nơi chú Quý ». Còn Tiêu Đình Quý thì chẳng còn dáng dấp tiên phong mà hiện lên đúng chất kép hài trong màn thoại:
Các anh lấy đó mà coi !
Lời tôi nói thiệt
Phải mỗ rằng ngoa ?
Cái con mẹ này
Ý đã muốn xì xòa
Nên đem lòng chăm bẳm
Từ anh em vào trong này, tự thử chí tư
Giữ một bề cơm mắm
Chẳng thấy bữa cá ngon
Còn như Nguyên soái mới vào một bữa, cha chả là tử tế !
Tôm bạc cá tươi
Gà tiềm vịt xáo !
Thầy nhờ thì tớ cũng nhờ
Chớ như không Nguyên soái thì có ra gì đâu !
Anh khá thì em cũng khá
Giọng văn tuồng quả thật khoái hoạt, làm sụp đổ biểu tượng ngũ hổ trung quân báo quốc, khoa trương thanh thế. Lí tưởng anh hùng phong kiến đã hiện lên trong hồi đầu đã hiện thực hóa trong sự thảm bại nhục nhã, thấp cơ thua trí nữ nhi.
            Có ngẫu nhiên chăng khi cái lí trong những vở tuồng Nguyễn Diêu lại thuộc về những nhân vật nữ. Giả thuyết về mối bi tình của riêng cụ Tú Nhơn Ân phần nào cắt nghĩa cho những ân hận, dày vò của cụ về việc phụ tình người tri kỉ. Mới hay, trong tuồng đâu chỉ có mục tiêu minh họa cho những quan niệm đạo lí rập khuôn trong quan niệm phong kiến mà còn là nơi hé lộ dấu ấn cái tôi, cá tính sáng tạo của tác giả. Trong một nền văn học chuộng sùng cổ, ước lệ, phi ngã thì tuồng đã làm một cuộc đột phá để lí giải từ góc độ nhân tình thế thái phù hợp với quan niệm nhân dân và nhất là đã khởi đầu cho hành trình về với hiện thực của thể loại thiên về văn chương bác học này.
            Những tình tiết trong hồi II của Ngũ hổ bình Tây là Địch Thanh ly Thợn đã làm say mê bao thế hệ công chúng yêu tuồng. Đã nhiều nhà nghiên cứu bàn về hồi đặc sắc nhất này của Ngũ hổ bình Tây. Nếu như hồi 1 là niềm tơ tưởng về một người chồng lí tưởng của công chúa Trại Ba thì hồi 2 lại là nỗi thất vọng của bà vợ Trại Ba sắc sảo với anh chồng hời hợt Địch Thanh. Lúc này không còn là quan hệ đối địch hai phe Tống trào – Đơn bang nữa mà quan hệ chủ yếu trong hồi này xoay quanh tình mẹ con (Địch Thanh – Địch mẫu), tình cha con (Phiên vương – Trại Ba), tình vợ chồng (Trại Ba – Địch Thanh),… Không gian kịch cũng không có cái uy nghi quy củ triều đình quần thần hay cảnh dàn binh bố trận đối địch mà mang màu sắc dân dã cùng với sáng tạo về nhân vật Lí trưởng trong hệ thống chức dịch làng xã Việt Nam và cảnh gặp gỡ Trại Ba – Địch Thanh nơi cửa ải Cáp Man trấn giữ giống như khung cảnh gia đình vợ chồng lời qua tiếng lại. Sáng tạo này của cụ Tú Nhơn Ân đem lại cảm giác gần gũi của sân khấu hát bội với công chúng bình dân, để chuyển hướng hồi 2 thành những đối thoại về nhân tình thế thái. Những suy nghĩ của các nhân vật gắn quan niệm, cách đánh giá theo quan niệm nhân dân. Những lí giải xoay quanh xung đột Hiếu – Trung, nghĩa quân thần, đạo vợ chồng… được gia thêm chữ Tình vốn dĩ nằm ngoài ngũ luân phong kiến. Sự xuất sắc của hồi Địch Thanh ly Thợn này chính là khả năng lột tả tính cách nhân vật trong những tâm trạng giằng xé. Đặc biệt ở hai nhân vật trung tâm là tâm trạng đặt vào trong những tình thế khó xử. Trước hết là Địch Thanh, anh ta vào tình thế bị thất thế mà phải trá hôn, vì tình mẫu tử mà hy sinh nghĩa vợ chồng, trắng trợn dối gạt người vợ Phiên bang đã đầu gối tay ấp. Ý tứ về nhân vật ẩn trong lời hát đòi hỏi người diễn viên phải thật sự thấu đạt kịch bản để lột tả những xung đột trong lòng Địch Thanh qua lời thán:
… Phụng thánh chỉ bình nhung
Ngã Địch Thanh nguyên soái
Như ta Lỡ bước vì người Đình Quý
            Gá duyên tạm với Thoại Ba
            Trăng hồng lâu giục não cùng ta
            Gió cố quốc đưa sầu cho mỗ
Mẹ, mẹ ôi!
            Mẹ nương cửa, nhọc tình triêu mộ
            Con trông mây, tủi phận thần hôn…
            Sau khi được Lưu Khánh báo tin mẹ bị hạ ngục, kể từ đây Địch Thanh tỏ ra bi lụy khóc thương và tìm mọi cách dối vợ bỏ Đơn bang tiếp tục sự nghiệp bình Liêu. Mọi sự biện bạch lí giải cho hành động của Địch Thanh là do hiếu – trung, bỏ qua sự chăm sóc yêu thương của Trại Ba. Một lần nữa, vai trò của Trại Ba lại lấn át hoàn toàn nguyên soái đứng đầu trong ngũ hổ. Những lời thoại của Trại Ba được trau chuốt công phu bộc bạch tấm chân tình và cái giận dữ con nhà võ khi lâm vào cảnh bị chồng bỏ rơi, ra đi không lời từ biệt. tiết tấu màn truy đuổi thật nhanh trong những lời thoại ngắn tạo tình thế khẩn trương. Xét ra, Địch Thanh đường đường nguyên soái Tống trào nhưng thất thế trước Trại Ba mọi mặt, trong vai kẻ đào tẩu khi gặp người tầm nã lại là bà vợ rất dữ dội, đúng là lâm cảnh như lời Lưu Khánh nhận định: “Ăn xôi chùa ngọng miệng – Mắc nước bí bó tay”. Hai phen chạm mặt Trại Ba, Địch Thanh đều đuối lí đành phải xuống nước năn nỉ. Trại Ba vì lụy tình, đau khổ mà phải nén vào lòng, giận Địch Thanh bạc nghĩa bạc tình nhưng lại tỏ ra hiểu đạo lí, giàu lòng vị tha nên đành cho Địch Thanh qua ải phạt Liêu để làm tròn hai chữ Hiếu – Trung. Nhiều bài viết đã chỉ ra “nỗi thốn tâm thiên cổ” cụ Tú Nhơn Ân gửi vào hồi Địch Thanh ly Thợn này, qua những hờn trách oán sầu thương hận của Trại Ba, nên xin phép không nhắc lại trong bài viết này. Chỉ xin nhấn mạnh một lần nữa nét độc đáo: tên tuồng là Ngũ hổ bình Tây, nhưng làm nên sức sống của cả ba hồi diễn lại là nàng công chúa Trại Ba đầy cá tính, đây cũng là đóng góp độc đáo nhất của Nguyễn Diêu gợi nhớ hình ảnh những nữ tướng tài ba lừng danh đất võ Bình Định từ thời Tây Sơn. Phải chăng đó cũng là một lí do để công chúng Bình Định đặc biệt hâm mộ vở tuồng này?
Hơn thế, sự gia công trau chuốt kịch bản của người học trò xuất sắc Đào Tấn với di sản của thầy học ở hồi thứ 2 này lại là một minh chứng cho con đường của tuồng hát khi đi vào đời sống dân gian, lấy thị hiếu công chúng làm trọng chứ không câu nệ vào sự gò bó câu thúc của những nguyên tắc như tuồng cung đình. Lấy chất lượng làm trọng, không chỉ là gia công vào mảng miếng chiêu trò, mà khâu kịch bản tuồng cũng có những gia công của những nghệ nhân, những bậc thầy tuồng hát, khiến Ngũ hổ bình Tây có nhiều biến đổi, nhuận sắc đẹp hơn, hay hơn so với kịch bản ban đầu. Từ đây, ta cũng nhận ra bài học về cải biên, phát triển vốn cổ cho phù hợp với cuộc sống đương đại. Riêng ở lĩnh vực này, Đào công đã có những bước tiến vượt bậc so với thầy học của mình.
**
*
Liệu đố (Chữa bệnh ghen) được lược thuật lại trong công trình của Quách Tấn – Quách Giao, và theo hiện trạng của văn bản do nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn sưu tầm, chúng ta nhận ra điểm thú vị trong sự gia công nhuận sắc và những phẩm bình của người đời sau với vở tuồng. Những bài thơ về Thổ Địa, trong màn diễn cương dường như đã được tu chỉnh cho phù hợp không khí của những ngày kháng chiến chống Pháp ở Liên khu V, nên tài liệu của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn dẫn ra phần Phẩm bình tuồng Liệu đố có những lớp từ hiện tại để nói về các màn diễn như Thổ địa đi công tác, Thổ Địa nhậu rượu… Ý nghĩa vở tuồng đâu chỉ nói chuyện đàn ông năm thê bảy thiếp trong thời phong kiến mà dường như còn có giá trị nhất định trong hoàn cảnh xã hội hiện đại. Thổ Địa đã đóng vai trò như ban hòa giải nhân dân, lấy tình làm trọng để khuyên nhủ con người biết bao dung trước hoàn cảnh. Kể ra, nội dung vở tuồng này hiện nay khó diễn vì chẳng khác nào cổ vũ cho các ông đa thê, nhưng có thể tiếp thu tinh thần khoan dung nơi chị em trước những lỗi lầm của đấng phu quân!!! Cách chữa bệnh ghen khá độc đáo, phải viện dẫn sự trợ lực từ thế giới khác, với vai trò Thổ Địa và anh hồn của mẹ vợ chốn Dạ Đài mới hóa giải được. Liệu vở tuồng này có liên quan đến ẩn ức nào trong đời sống tác giả hay không, có lẽ cũng cần một sự tìm hiểu kĩ càng hơn.
Vở tuồng có nhiều công phu trong diễn xuất và tập trung chất bi kịch của cuộc sống là Võ Tam Tư trảm Nguyệt Cô (Nguyệt Cô hóa cáo). Nhân vật này có nhiều điểm đáng thương khi phải trả giá cho bệnh mê trai (!). Mà cũng lạ, phần lớn các nhân vật tạo sóng gió và đóng vai trò trung tâm trong tuồng của cụ Tú Nhơn Ân như đều mắc chung căn bệnh này. Tuy nhiên, chỉ có Nguyệt Cô là phải trả giá đau đớn cho khát khao được sống được yêu như một con người của mình. Sự táo bạo của nội dung vở diễn khiến nhiều gánh hát thời xưa phải e dè vì các hương thân hào sĩ sợ phạm thuần phong giáo hóa. Như vậy cũng là một bất công cho vở tuồng, khi trở thành nạn nhân của lối thưởng ngoạn phi nghệ thuật. Tuy nhiên cũng lại là một nghịch lí khi vở tuồng ít được diễn thời phong kiến mà lại luôn được đưa ra bàn luận tranh cãi, thậm chí còn tạo xung đột ẩu đả như một cách bảo vệ danh dự vùng miền (theo như lời kể trong giai thoại của Quách Tấn – Quách Giao)[2]. Câu chuyện từ cáo thành người, rồi do mất ngọc người phải trở về kiếp cáo đem lại những bàn luận trái chiều, nhưng không thể phủ nhận đây là vở giàu chất văn học hơn cả, mang đậm dấu ấn rất riêng của cụ Tú Diêu, nếu không muốn nói là một thành tựu cách tân táo bạo nói chung của tuồng hát bội trên hành trình thâm nhập hiện thực. Nhà nghiên cứu Tất Thắng đã rất có lí khi cho rằng: “Với Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, nghệ thuật Tuồng đã đạt tới mức điêu luyện cổ điển trong việc đặc tả cùng một lúc cả ngoại hình và nội tâm nhân vật. Với ngôn ngữ khác lạ hóa, Tuồng đã diễn tả được một hiện tượng không có thật trong đời sống, mà chỉ diễn ra trong sự mường tượng của con người. tính nhân văn tràn đầy và tính triết lí sâu sắc, tính huyền thoại độc đáo của Tuồng đã tìm thấy ở mảnh trò này một minh chứng đầy sức thuyết phục” (Nghệ thuật Tuồng – nhận thức từ một phía, tr.123). Nói thẳng ra, Quỳnh Phủ tiên sinh đã thật sự làm một cuộc cách mạng, cũng giống như Nguyễn Dữ mô tả những cảnh làm tình trong Truyền kì mạn lục, Hồ Xuân Hương đưa những biểu tượng dục tính vào trong thơ, thì màn giao hoan Nguyệt Cô – Tiết Giao là sự táo bạo (có thể là duy nhất) trong nghệ thuật hát bội. Và tiếp cận từ góc độ này, chúng ta thấy những lời buộc tội vở tuồng phạm phải thuần phong giáo hóa là vô căn cứ. Đáng kết án là Lí Tịnh chủ mưu và Tiết Giao đồng phạm đã lợi dụng lòng si mê của Nguyệt Cô để tước đoạt quyền làm người của nàng, và Nguyệt Cô vì phút mất cảnh giác buông thả cho bản năng đã để mất đi chất ngọc người ngàn năm tu luyện. Bài học nhân tình thế thái từ nhiều khía cạnh đã tạo cho vở tuồng mang tính đa thanh phức điệu, không đơn thuần một xu thế giáo huấn như nhiều vở tuồng cổ khác.
3. Nghệ thuật tạo xung đột trong các vở tuồng của Nguyễn Diêu:
            Trong các giả thiết đưa ra, gạt bỏ những tồn nghi để đi tìm một bản sắc đích thực trong văn tuồng Nguyễn Diêu, người viết cũng thiên về giả thiết cho rằng tuồng của ông đã nhiều lần có bàn tay gia công, nhuận sắc chỉnh lí của người đời sau. Nhưng cái hồn cốt của từng vở vẫn còn nguyên vẹn. Phần lớn những xung đột kịch đều đơn giản, cách xử lí không quá nhiều trăn trở và nhiều tâm trạng ở các nhân vật như trong tuồng Đào Tấn.
            Xung đột tạo kịch tính truyền thống trong tuồng hát bội khai thác trong các tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa thường chuộng đề tài quân quốc với mô-tip “vua băng nịnh tiếm, bà thứ mắc nạn, ông trạng bị vây, chém nịnh định đô, tôn vương tức vị”, thường phân thành hai phe rạch ròi trung – nịnh. Tuồng Nguyễn Diêu trong khảo sát này có hai vở thuộc hình thức diễn truyện, diễn ca, lấy từ tích trong các tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa. Một mặt, nó trung thành với nguyên tác, cốt truyện của tiểu thuyết, nhưng không phụ thuộc hoàn toàn vào gốc truyện. Mặt khác, xung đột được khai triển theo dụng ý nghệ thuật riêng của tác giả, làm biến dạng nguyên bản và định hướng cho xử lí lột tả tính cách nhân vật trên sân khấu.
            Cũng từ những chuyển hướng quan niệm từ các vấn đề đạo lí phong kiến truyền thống sang đạo lí nhân dân, ta xác định được những xung đột cơ bản và xung đột thứ yếu trong tuồng Nguyễn Diêu. Ở Ngũ hổ bình Tây, nếu theo cách diễn truyện truyền thống thì ắt hẳn xung đột cơ bản phải là giữa phe thái sư Bàng Hồng và ngũ hổ tướng, để đề cao lòng tận trung báo quốc, trung nghĩa thắng gian nịnh. Vậy mà xung đột trong các hồi 1, 2, 3 đều không tập trung vào mối quan hệ cơ bản của tuồng “quân quốc” mà chỉ mượn cái xác “tôn quân” để chuyển cái hồn “trọng nghĩa”, “lụy tình” mà thôi. Ở hồi 1, xung đột bắt đầu từ nhầm lẫn trên đường chinh phạt, thay vì bình Liêu thì ngũ hổ lại quá quan trảm tướng của… Đơn bang! Thế nhưng đối đầu Tống quốc – Đơn bang giữa một bên là Địch Thanh mang ấn nguyên nhung và một bên là Trại Ba công chúa. Cái khéo và cái ngộ nghĩnh của hồi 1 là: đầu tiên bốn tướng bị Trại Ba đánh cho tơi tả, nhụt nhuệ khí binh tướng thiên triều, cũng làm hả dạ nữ nhi hạ uy hổ tướng! Tiếp theo cuộc đối đầu Địch Thanh – Trại Ba đã chuyển thành xung đột tình – thù. Mọi suy nghĩ, tâm trạng của Trại Ba đều hướng tới mục tiêu chinh phục ông Tống tướng đẹp trai. Để rồi, Địch Thanh từ vai trò kẻ đi chinh phục bị lâm vào thế bị động, thúc thủ trước mưu kế rất “quái” của Trại Ba. Công chúa Đơn bang làm Tống trào nguyên soái bị xỏ mũi, dắt dây! Hồi 1 chính là quá trình dẫn giải sự thắng thế tuyệt đối của nữ quyền trước các đấng nam nhi đại trượng phu khua môi múa mỏ. Đến hồi 2 – Địch Thanh ly Thợn, lớp “Trại Ba thoát trướng” tập trung xung đột cơ bản của hồi tuồng. Xung đột trong hồi này có phần tản mạn vì liên quan nhiều không gian, biến cố dồn dập, có nhiều lớp diễn khác nhau. Địch Thanh phát ngôn mạnh miệng trung quân báo quốc nhưng thực tế là do muốn cứu mẹ cho trọn đạo hiếu. Nhưng đứng trước Trại Ba, chàng ta không thể biện bạch được lí do đào tẩu của mình. Xung đột lí – tình hai phen giữa vợ chồng lên đến cao trào, dẫu có Lưu Khánh trợ lực thì Địch Thanh cũng ngậm hột thị không thể chối tội bạc tình. Cụ Tú Nhơn Ân có lẽ dồn hết bút lực cho đoạn tâm đắc ẩn chứa tâm sự chính mình này:
Địch Thanh: Thưa Công chúa! Công chúa giận cũng phải, làm ngơ cũng phải. nhưng mà xin Công chúa nghĩ lãi cho hạ quan nhờ
                    Nếu bó tay hào kiệt
                    Không trả nợ anh hùng
                    Bận nỗi vợ nỗi chồng
                    Sao rằng trung rằng hiếu?
Công chúa: Á thôi! Ai không cho ông nguyên soái hiếu? Ai không cho ông nguyên soái trung? Bớ ông nguyên soái! Tôi hỏi
                    Muốn hiếu trung phải vẹn chữ thỉ chung
                    Đường khứ tựu phải cho minh bạch
                    Làm một ông nguyên soái như ông, cha chả là lịch sự!
                    Đã trốn đi lấm lét
                    Mà lại nói bơ thờ
                    Còn trách làm ngơ
                    Nghĩ không nên giận hay mần răng?
Địch Thanh: Thưa Công chúa! Công chúa giận cũng phải, làm lơ cũng phải. nhưng rứa mà công chúa nghĩ lại cho kẻ hạ quan nhờ. Nay thằng Bàng Hồng nó sàm tấu rằng kẻ hạ quan phản quốc sự cừu, cho nên nó được lệnh thiên tử câu thủ mẫu thân giam vu ngục nội, thời đã rồi! Có phải là 
                    Oan ấy ỷ khôn đôi chối
Nên chi        Lụy này đòi bữa chứa chan
                    (Công chúa lau nước mắt v.v…)
Những tưởng với lời biện bạch ấy có thể làm mềm lòng công chúa, Địch Thanh trổ tài hùng biện lấy phận làm con áp đảo Trại Ba, nhưng một lời công chúa dồn Địch Thanh cứng họng, bẻ gãy cái lí hồ đồ:
Công chúa: Nguyên soái biết thương mẹ, chớ thiếp chẳng biết thương mẹ hay mần răng?
            Mẹ Tề như mẹ Tấn
            Lòng đó cũng lòng đây
  Như nay Nguyên soái có thương mẹ thì Nguyên soái cũng nói cùng thiếp, đặng thiếp vào thiếp tâu cùng  phụ vương thiếp, gia binh mã cho Nguyên soái đi
Dẫu có chi, cũng chẳng can chi
Nay Nguyên soái trốn đi! Có phải là
Bởi thương lắm, cho nên mới giận lắm!
Rõ ràng công chúa Đơn bang cũng hiểu đạo lí, không ngăn cản chồng làm tròn chữ Hiếu chữ Trung! Thương mà giận người đầu gối tay ấp không trọng nghĩa vợ chồng, hành động thiếu minh bạch, lộ mặt bạc tình. Mâu thuẫn chưa giải, lại thêm Lưu Khánh châm dầu vào lửa, vậy là lửa giận phừng phừng, nước này thầy trò Địch Thanh chỉ còn dụng chước “dĩ đào vi thượng” mà thôi! Phải đến khi tới Hỏa Phong Quan, nàng mới hạ hỏa mà đành: “Cắn răng mà chịu chữ đoạn tràng – Nhắm mắt lại chờ ngày tái hiệp” để lúc đó Địch Thanh mới hiểu dạ “tư phu thục nữ” mà cư xử đúng đạo phu thê. Cũng phải nói thêm là phần nhuận sắc của Đào Tấn giúp cho xung đột hóa giải được trọn vẹn và cũng thể tất phần nào khi bổ sung thêm dăm lời tình nghĩa mặn nồng cho Địch Thanh tương xứng với tấm lòng Trại Ba công chúa.
Xung đột hồi 3 của vở tuồng ít nhiều mang dáng dấp quen thuộc của nhiều vở tuồng quân quốc, với tình huống Địch Thanh bị vây khổn bởi Tinh La Hải, phải nhờ vợ giải cứu. Viết hồi 3, Quỳnh Phủ tiên sinh cũng không quá chú trọng vào tình thế gay cấn đối địch Tống – Liêu mà muốn giải quyết cho trọn vẹn nỗi ấm ức của cha con Trại Ba, cơn giận bị Lưu Khánh đập một côn, Tiêu Đình Quý buông lời xỉ mạ. Ngũ hổ tướng của tuồng Nguyễn Diêu cố tỏ vẻ oai phong lẫm liệt, hùng tâm tráng chí thì đến hồi này mang đậm chất bi hài, phải dập đầu tạ tội nguyên soái phu nhân, cậy nhờ tài năng nữ nhi mới thoát khốn đốn ở Bạch Hạc quan. Màu sắc dân dã tuồng hài đậm nét hơn cả trong hồi thứ 3 này, với những xung đột tạo tiếng cười sảng khoái, cùng sự xuất hiện của một loạt các nhân vật độ phu (chèo đò), quán, lý trưởng Đơn quốc… Lí tưởng lập công dương danh xem chừng đã mờ nhạt, thiên binh vạn mã Tống quốc phải cậy nhờ tài nhi nữ Đơn bang mới hoàn thành sự nghiệp bình Liêu. Vở tuồng đã vượt thoát khuôn khổ ước lệ, mang hơi thở hiện thực gần gũi với nhân dân, đáng gọi là “tuồng thầy” về tuồng tình cảm.
Vở thứ hai cũng lấy đề tài từ tiểu thuyết chương hồi là Nguyệt Cô hóa cáo, trong bộ ba Thuyết Đường – Phản Đường – Tàn Đường gọi chung là Thuyết Đường diễn nghĩa. Xung đột kịch ở vở này có nhiều éo le, mang hơi hướng triết lí nhân sinh đậm nét. Đề tài vở này ít nhiều đụng chạm đến vấn đề cấm kị phong kiến nên có thể nói cụ Tú Nhơn Ân đã thật sự khai phá cho một mảng tâm lý – tình cảm trong Tuồng. Nhân vật trung tâm  lại tiếp tục là nữ, hơn nữa lại là hồ ly tinh tu luyện mà thành. Không rõ khi sáng tạo những xung đột cho vở tuồng này, cụ Tú có ám ảnh bởi mối oan tình với người con gái đã vì ông mà quyên sinh hay không, nên các xung đột đối địch giữa các nhân vật Tiết Giao – Nguyệt Cô bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Xung đột bên trong của Nguyệt Cô mới thật sự tạo nên chấn động tâm tư của người thưởng thức. Bản chất hồ ly được thể hiện trong kịch bản qua sự mê đắm Tiết Giao của Nguyệt Cô thực ra khiến người xem dễ cảm thông và chia sẻ. Phải chăng cuộc sống của một nho sĩ không bị câu thúc trong những ràng buộc của chốn quan trường đã giúp Nguyễn tiên sinh khai thác khá táo bạo những khát vọng thầm kín, những xung đột Yêu và Hận của Nguyệt Cô để làm nên những giằng xé nội tâm đầy ám ảnh của nhân vật và khiến cho độc giả và đặc biệt là khán giả hát bội phải rùng mình trong bi kịch Người – Cáo của nàng? Sức hấp dẫn của Nguyệt Cô cũng khiến cho xung đột bi kịch đẩy đến cao trào khó thấy ở những vở tuồng khác, làm tiền đề cho hướng phát triển của tuồng hát bội lãng mạn sau này phát huy trí tưởng tượng và cảm xúc mãnh liệt.
Với Liệu đố, tác phẩm theo tài liệu của Quách Tấn – Quách Giao cho rằng được viết khoảng 1872 – 1880 khi tác giả đã qua tuổi “tri thiên mệnh”, ta thấy rõ một Nguyễn Diêu rất sâu sắc và bao dung trong xử lí những mâu thuẫn éo le về nhân tình thế thái, trong bối cảnh một xã hội phổ biến tình trạng “đàn ông năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Đây là vở tuồng hư cấu nhưng rõ ràng đã khai thác tối đa từ hiện thực để xây dựng nên một nhân vật “ghen bất hư truyền”! Mối lương duyên Châu Anh – Kim Liên dường như có yếu tố “thiên duyên tiền định” nhưng quả thật đã đẩy các nhân vật trong cuộc vào tình thế tréo ngoe: Châu Anh có vợ bé, Ngọc Mai nổi cơn ghen trời long đất lở, táng đởm kinh hồn. Kịch bản này là một sáng tạo của Nguyễn Diêu khi không dựa vào một tuồng tích, câu chuyện nào có sẵn trong tiểu thuyết chương hồi, mang sắc thái bình dân khi xoay quanh quan hệ gia đình, xung đột giữa những người phụ nữ trong cảnh “lấy chồng chung”. Nhân vật trung tâm là người vợ bé Kim Liên, chịu phận tiểu tinh nhưng đã thể hiện lòng vị tha để cảm hóa Ngọc Anh. Chủ đề cũng thật độc đáo khi tác giả đưa ra các giải pháp “chữa bệnh ghen”. Nguyễn Du đã từng đưa ra một nhân vật Hoạn Thư trước đó, hẳn cụ Nguyễn Du cũng không hay rằng trong tuồng hát bội của Nguyễn Diêu còn tô đậm tính cách tâm trạng người đàn bà ghen tuông lên đến một mức trần thế không có cách ghen nào lạ đời đến vậy! Kể ra vở tuồng này đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại với chế độ một vợ một chồng thì cũng khó có đất diễn, nhưng đặt vào bối cảnh thời phong kiến thì không hiếm những khán giả thời đó nhìn thấy mình trong đó. Tác giả tạo nhiều tình huống khác nhau, kể cả khi Ngọc Mai – Kim Liên cùng chung hoạn nạn, vào sinh ra tử; rồi cả Thổ Địa, âm hồn cùng can thiệp nhưng không hóa giải nổi căn bệnh ghen. Chỉ có Kim Liên bằng sự cam chịu và cả đức hy sinh cao cả mới cảm hóa nổi người vợ lớn, biến hận thành thương, âu cũng là một giải pháp khả dĩ trước chuyện đã rồi. Cái thú vị là khi xây dựng kịch bản này, có lẽ Nguyễn Diêu cũng xuất phát từ cảm hứng hiện thực nơi làng quê ông sống, đưa vào khá nhiều thành ngữ tục ngữ dân gian và dường như có cả những mảng miếng tuồng tích từ bài chòi, truyện cổ dân gian kiểu Thoại Khanh Châu Tuấn để sáng tạo tình huống cắt thịt người giúp Ngọc Mai giải bệnh quỷ! Xung đột hài được khai thác tối đa nhằm tạo tiếng cười sảng khoái và hướng về xu hướng hòa giải bằng lòng vị tha, cảm thông giữa những người phụ nữ với nhau. Bởi vậy, trong hệ thống tuồng hài, vở Liệu đố cũng đáng được xếp vào vị trí những vở tuồng tiêu biểu gắn quan hệ làng xã ngày xưa.
4. Tạm thay lời kết
Trong phạm vi một tham luận nhỏ, người viết không có điều kiện để khai thác thêm những điều rất đáng bàn trong kịch bản tuồng Nguyễn Diêu. Chẳng hạn về chất thơ rất đặc trưng của tuồng hát Bình Định đã được Nguyễn Diêu vận dụng khá nhuần nhuyễn. Mặc dù hạn chế của các vở này là thơ chữ Hán quá nhiều điển tích điển cố và chưa đạt đến chất trau chuốt của văn chương bác học như tuồng sau này của người học trò xuất sắc Đào Tấn. Nhưng rõ ràng, sự biến hóa linh hoạt trong vận dụng nhiều thể thơ luật Đường. lục bát, nói vè… cũng tạo nên tiết tấu riêng và phát triển vượt bậc so với tuồng nói kiểu Sơn Hậu phần lớn thiên về nói lối. Hoặc giả từ những khai phá ban đầu trong việc khắc họa nội tâm, xây dựng tính cách trong tuồng của cụ tú Nhơn Ân, sau này Đào Tấn đã đưa nghệ thuật tuồng lên đỉnh cao rực rỡ, mẫu mực. Những vấn đề như vậy đòi hỏi phải có hẳn một chuyên luận dài hơi.
  Bản thân người viết mới chủ yếu tiếp xúc tuồng hát bội Nguyễn Diêu qua kịch bản, bởi vậy những ý kiến trong tham luận này chủ yếu xem xét từ phía kịch bản văn học, không tránh khỏi có những phiến diện. Nhưng có thể thấy sức hấp dẫn của tuồng cụ tú Nhơn Ân vẫn rất sâu rộng trong đời sống đương đại ở địa phương Bình Định, đặc biệt ở quê hương Tuy Phước lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị về việc diễn màn đoạt đò trong Ngũ hổ bình Tây bằng cách dựng sân khấu trên một quãng đìa nước, chuyện những đào kép diễn xuất thần Nguyệt cô hóa cáo. Một ông chú tôi là Hương Sơn lão sĩ Trần Đình Chi, thời trẻ từng theo làm kép trong các đoàn hát cứu trợ, năm nay tuổi đã 90 bị nằm bệnh viện vì gãy xương, đã nói tôi mang vào bản Ngũ Hổ Bình Tây để đọc và nhẩm hát theo cho quên đau đớn. Trong các dịp tế hiệp, đầu xuân, tuồng Nguyễn Diêu vẫn có mặt trong các vở diễn hát hiến bà con ở khắp các vùng quê…
            Có thể thấy Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu có một vị trí quan trọng trong đội ngũ các tác gia tuồng làm nên đặc trưng riêng của tuồng Bình Định. Đóng góp lớn của ông không chỉ ở vai trò thầy dạy tuồng cho một tài năng kiệt xuất là Tô Giang Đào Tấn mà bên cạnh đó còn góp cho hậu thế những vở tuồng đặc sắc, có dấu ấn sáng tạo riêng. Đó là sự phá vỡ đề tài quân quốc truyền thống, sự táo bạo trong xử lý đề tài phong tình vượt ra khuôn khổ lễ giáo, đặc biệt là xây dựng được những nhân vật nữ vừa là đào võ – đào thương mang đậm sắc thái, tính cách con người vùng đất võ. Hy vọng rằng trong việc bảo tồn và phát triển tuồng truyền thống, những nhà nghiên cứu, đội ngũ diễn viên sẽ tìm ra và kế thừa được thêm di sản quý trong tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân, lưu giữ được những nét riêng của dòng tuồng Bình Định.
                                                                                    Bình Định, tháng 5 năm 2012
                                                                                                TRẦN HÀ NAM
Tài liệu tham khảo:
  1. Tuồng cổ, tập 1 – Hoàng Châu Kí, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1978
  2. Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại – Trần Đình Hượu, NXB Giáo dục, 1999
  3. Nghệ thuật tuồng – nhận thức từ một phía – Tất Thắng, NXB Văn học 2006
  4. Đào Tấn và hát bội Bình Định – Quách Tấn, Quách Giao, NXB Văn hóa dân tộc 2007
  5. Góp nhặt dọc đường – Vũ Ngọc Liễn, NXB Sân khấu, 2011
  6. Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu, ông đồ nghệ sĩ – Vũ Ngọc Liễn, NXB Sân khấu, 2012
[1] Hoắc Khứ Bệnh (140 – 117 TCN) danh tướng của Hán Vũ Đế có công dẹp Hung Nô giữ yên bờ cõi phía Bắc Trung Hoa.
[2] Chuyện kể về ông Tôn thất người Huế bị Đoàn Phong ở Tây Sơn đá hộc máu vì nói xúc xiểm tính cách người Bình Định nhân bàn đến Cổ miếu vãn ca (Nguyệt Cô hóa cáo)

Vũ Ngọc Liễn – người nặng lòng với Đào Tấn và tuồng hát bội


Trong lịch sử hát bội Việt Nam, vị hậu tổ Đào Tấn (1845 – 1907) còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ. Chỉ đến khi hội nghị nghiên cứu Đào Tấn lần thứ I (1977) thì tên tuổi cũng như sự nghiệp của ông mới thật sự được chú trọng trong giới nghiên cứu, học thuật của nền văn học cách mạng. Người tiên phong trong việc khẳng định vai trò Đào Tấn chính là thi sĩ Xuân Diệu. Trong các cuộc hội thảo lần thứ II (1982) hội thảo lần thứ III (2001) các ý kiến đánh giá về Đào Tấn, các bài tham luận của nhiều học giả đã bổ sung thêm nhiều tài liệu quý báu. Thế nhưng hầu như sau các cuộc hội thảo ấy, thành tựu chỉ nằm trong các tập kỉ yếu hội nghị. Cụ Đào Tấn không có dịp đến với công chúng cả nước. Tại hội thảo lần thứ III, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã đặt vấn đề tập hợp công bố di cảo đồ sộ của Đào Tấn cũng như các kết quả nghiên cứu ban đầu, với dự định sẽ phải hơn nghìn trang viết. Nhưng rồi, không ai đủ kinh nghiệm, công sức cũng như niềm đam mê theo đuổi đến cùng việc nghiên cứu Đào Tấn như Vũ Ngọc Liễn. Vậy là vị lão tướng đã xấp xỉ bát tuần lại dồn hết tâm sức để làm một việc tưởng chừng như không tưởng, thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước để làm nên bộ công trình đồ sộ ba tập: Đào Tấn Thơ và Từ (in 2003), Đào Tấn Tuồng hát bội (in 2005) và Đào Tấn qua thư tịch (in 2006). Ròng rã bốn năm trời, khi bộ sách hoàn thành cũng là lúc ông nâng ly mừng thọ 82 tuổi!

vnl
Cảm động biết bao nhiêu công việc thầm lặng mà đầy ý nghĩa này. Cảm động biết bao nhiêu những lời tác giả ghi sau của cuốn sách, với sự khiêm tốn nhận lỗi sai sót trong quá trình biên khảo và lời tri ân : “Nhân dịp bộ sách Đào Tấn hoàn tất việc in ấn tôi xin ghi ơn những người đã có công đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công trình nghiên cứu danh nhân Đào Tấn bao năm qua, trong số ấy nhiều người đã quá cố như anh Xuân Diệu, Hồ Đắc Bích, cụ Mạc Như Tòng, cụ Tống Phước Phổ, anh Đỗ Văn Hỷ… Tôi đặc biệt cảm ơn hai ông bạn vong niên Bùi Lợi và Mạc Côn đã cùng tôi lăn lộn sưu tầm tài liệu về Đào Tấn suốt thời gian dài. Cảm ơn cô Kim Hưng (Nhà xuất bản Văn học) đã giúp tôi chăm sóc bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu ở Nhà Xuất bản Văn Học (1987). Cảm ơn ông bạn Nguyễn Thanh Hiện đã cùng tôi vật lộn với chữ nghĩa làm bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu. Cảm ơn Ty Văn Hóa – Thông Tin Nghĩa Bình trước đây và Sở Văn Hóa Thông Tin Bình Định hiện nay luôn cổ vũ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu về Đào Tấn. Cảm ơn Nhà xuất bản Sân khấu của hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam luôn đôn đốc và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn tất công tác biên khảo bộ sách này” (Ghi sau – Đào Tấn qua Thư tịch). Chúng ta hãy hiểu niềm cảm động biết ơn của một nhà nghiên cứu tuổi 82, đã không hề quên công những người đã giúp ông có dũng khí, niềm tin và sức lực cho một bộ ba tác phẩm đồ sộ về Đào Tấn. 
Điều đáng nói là sau khi công trình này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu, các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quy Nhơn, Đại học KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh đã có thể có một cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về Đào Tấn, tiếp tục khai thác để cho sự nghiệp của danh nhân Đào Tấn thật sự hoàn thiện trong mắt mọi người. Đã bắt đầu có nhiều luận văn thạc sĩ ở Hà Nội, Quy nhơn, TP. Hồ Chí Minh có điều kiện khai thác sâu hơn về Đào Tấn, nhờ những tư liệu quý từ bộ sách. Nhiều sinh viên trẻ đã tìm đến với Vũ tiên sinh để cùng nhau nói về tuồng hát bội, về thơ và từ Đào Tấn, tham khảo những ý kiến của một người tuổi tác đáng cụ, đáng ông nhưng tấm lòng với Đào Tấn vẫn sôi sục nhiệt thành như tuổi đôi mươi. Đáng nể hơn là họ vẫn thấy ông cặm cụi biên soạn các công trình mới, phổ cập đến đại chúng những tài liệu vốn dĩ thường được lưu trong dòng tộc như gia bảo rồi dần dần mai một! Lần lượt những tài liệu “Chầu Đôi” (Trúc Tôn Phạm Phú Tiết) được chỉnh sửa hoàn thiện, “Góp nhặt dọc đường”, “Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ” của ông ra đời và được đón nhận nồng nhiệt. Đó là cái Tâm với tuồng, với cả bậc thầy của hậu tổ Đào Tấn, tấm lòng dành cho bậc cha chú đã dìu dắt ông vào nghề. Một con người như vậy, thật đáng kính. Có lẽ cũng chính từ tình yêu không mệt mỏi với nghệ thuật tuồng đã giúp ông vượt lên cả trận đột quị tai biến để hoàn thành tâm nguyện biên khảo về Nguyễn Diêu – thầy của hậu tổ hát bội Đào Tấn vào năm 2011 vừa qua.
nd
Một con người lao động bền bỉ, chỉ với một tâm nguyện đưa tên tuổi Đào Tấn, đưa nghệ thuật tuồng đến với công chúng hôm nay xứng đáng được ghi nhận công lao. Và biết bao người làm văn hóa nghệ thuật đã phải kính phục con người vượt lên chính mình, luôn học hỏi rèn luyện cầu thị để trở thành một nhà nghiên cứu tuồng hàng đầu Việt Nam. Không những thế, con người ấy luôn tỏ rõ sĩ khí trước những hành vi làm vấy bẩn bầu không khí văn chương, thẳng thắn lên tiếng trước những điều sai trái. Đáng trân trọng thay!
Vĩ thanh: vậy mà từ khi bộ ba công trình về Đào Tấn cùng với “Góp nhặt dọc đường” của tác giả Vũ Ngọc Liễn được đề cử giải thưởng Nhà nước như một ghi nhận công lao của người bền bỉ phấn đấu vì sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng hát bội, người góp phần không nhỏ đem Đào Tấn đến với công chúng thế hệ sau, đã có một số kẻ không  khỏi hận thù. Một vài bài báo trên những tờ chẳng liên quan gì đến văn chương học thuật như “Tài nguyên và Môi trường” và gần đây là báo “Tiền Phong” đã cho đăng những bài thóa mạ, vu cáo, xuyên tạc, xúc phạm tên tuổi của Vũ Ngọc Liễn, mà tên tuổi của người viết khiến người đọc ngơ ngác chẳng biết họ là ai! Rồi một vài trang mạng đăng lại, có những trang đăng hàng chục còm-men với lời lẽ đầy thù hận, hằn học mà không một lần dám chính danh. Tất cả những thông tin ấy đến tai anh em văn nghệ sĩ Bình Định, nhiều người nổi giận muốn tìm ra chân tướng những kẻ nặc danh ti tiện. Đã quá cũ rồi cái trò tung hỏa mù để tạo dư luận hòng cho hội đồng xét giải thưởng Nhà nước gác lại công trình của tác giả “có vấn đề”! Những luồng gió độc lởn vởn ấy có làm cho nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn bận tâm chăng? Gặp ông định hỏi, nhưng Vũ Tiên sinh dường như không chút bận lòng. Ông lại say sưa với ý định viết về Xuân Diệu, tìm hiểu về những người bạn văn tuyệt vời của Bàn Thành Tứ Hữu…
23.2.2012
TRẦN HÀ NAM 
hb 

Chuyện xưa chuyện nay…


Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 hiện nay đưa vào học thể loại Bình Sử, có nhiều gợi mở trong cách thức tiếp cận! Trước kia, có tủ sách “Những vì sao đất nước” của NXB Kim Đồng, những truyện như thế có thể đến được với trẻ em từ rất sớm. Cho đến tận bây giờ, mấy chục năm trôi qua, những chuyện kể về các danh nhân đất Việt vẫn còn in đậm trong tâm trí.
Bẵng đi khá lâu, chẳng biết từ khi nào những dạng bài học từ lịch sử kiểu như vậy không còn xuất hiện trong sách giáo khoa cũng như trên thị trường xuất bản truyện thiếu nhi là sự xâm lăng của truyện tranh với không ít những truyện vô bổ, hoang đường. Đến bây giờ, kiểu bài bình sử mới đưa vào trong sách giáo khoa lớp 10 quả là muộn màng! Học trò tiếp cận bài học, ngơ ngơ ngác ngác, ngáp ngắn ngáp dài vì các em mù mờ về lịch sử, không có nền tảng từ tuổi thiếu nhi.
Nhưng thà muộn còn hơn không! Chương trình Ngữ Văn có quá ít những bài để khơi dậy cảm hứng tự hào về danh nhân đất nước! Một thời sa vào chủ nghĩa kinh viện, học tác giả tác phẩm theo kiểu hàn lâm. Một thời lại quá sa vào chủ nghĩa đề tài… mà rất ít những tác phẩm hình thành nền tảng đạo lý cho học sinh trên tinh thần ôn cố tri tân.
Chẳng hiểu sao, mình lại hứng thú đặc biệt với kiểu bài bình sử! Có lẽ nó gợi nhớ một thời thiếu nhi mê mẩn với “Trên sông truyền hịch”, “Trăng nước Chương Dương”, “Những vì sao đất nước”, “Chọn soái”, “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”… Lịch sử đã thấm vào mình bằng những câu chuyện rút ra từ sách sử, từ những mẩu chuyện sinh động, chứ không phải là những bài lịch sử với kết cấu nhàm chán: sự kiện – diễn biến – kết quả – nguyên nhân – ta thắng địch thua, diệt bao nhiêu tênm thu bao nhiêu súng…
Như trong hai bài học ở sách Ngữ Văn 10 nâng cao: Thái phó Tô Hiến Thành Thái sư Trần Thủ Độ. Với mình, nó không mới, nhưng giờ tiếp cận từ góc độ một giáo viên, vẫn ngẫm ra nhiều điều thú vị. Dù cho hình thức của các tác phẩm Bình Sử có phần hơi xa lạ với tư duy thời nay, nhưng ít nhiều cũng giúp cho hiểu cách người xưa đánh giá về các nhân vật lịch sử. Không phải chỉ là chức danh, hành trạng mà cách nhìn, đánh giá chủ yếu theo những chuẩn mực về tài năng, đức độ, dưới góc nhìn chân thực của sử quan. Chẳng hạn quanh các xung đột giữa Tô Hiến Thành và Thái hậu quanh việc thực hiện di chiếu của tiên vương, để hiểu về ý thức trung quân của kẻ sĩ gắn kết phẩm chất “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”; chuyện chọn người của Tô Hiến Thành không giống kiểu cất nhắc cán bộ ở một số nơi bây giờ chủ yếu vì cánh hẩu, vì ê kíp mà không thèm quan tâm đến ích nước lợi dân! Chuyện quan xưa đáng cho quan nay học tập! Hay như thái sư Trần Thủ Độ, được sử ghi lại không hề tô vẽ là người ít học nhưng lại có tài thao lược, một tay dựng nghiệp nhà Trần, đầy bản lĩnh đối mặt sự thật, thưởng phạt nghiêm minh, khiến trên dưới đều nể phục! Những bài học như thế, chỉ cần các em ghi nhớ, sẽ phần nào giúp các em hiểu về cha ông, học cách xử thế người xưa mà sống đàng hoàng có nhân cách. Mai mốt có làm quan thì cũng có chút ít định hướng thế nào là quan trí đích thực!
Còn nhiều vấn đề, nhưng muốn bàn sâu bàn kĩ, cần phải hình thành một chuyên luận, không phải là mục đích của entry trên blog này!

THƠ NGUYỄN TRÃI


Nguyễn Trãi (1380 – 1442) để lại cho đời những bài thơ chữ Hán và chữ Nôm đặc sắc, qua đó để chúng ta hiểu rõ về chân dung của người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hơn thế nữa, qua thơ chữ Hán và chữ Nôm của ông, ta có thể nhận ra chân dung một nghệ sĩ, một con người chính trực. Tìm hiểu Nguyễn Trãi thông qua một tác phẩm chữ Hán trong Ức Trai thi tập và một tác phẩm chữ Nôm trong Quốc âm thi tập tuy chưa giúp hình dung đầy đủ về tâm hồn Nguyễn Trãi, nhưng chúng ta cũng có thể nhận ra tâm sự cũng như cảm hứng của nhà thơ.
I. Mạn hứng bài số 4:
Nguyên tác:
Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng
Đương niên thác tỷ bắc minh bằng
Hư danh tự thán thành cơ đẩu
Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng
Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng
Ưu du thả phục ngôn dư hiếu
Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng.
Dịch nghĩa:
Nhớ xưa từng có ý muốn cưỡi gió lên chín vạn dặm cao
Bây giờ toan tự sánh mình với chim bằng ở biển bắc
(Tự thẹn) hư danh (vô dụng) chẳng khác nào sao cơ sao đẩu
Kẻ học sau ai lại đem mình ra làm mức làm chuẩn
Một tấm lòng son sắt như lò lửa luyện kim đan
Mười năm phục vụ liêm khiết trong như bầu ngọc
Lại bảo rằng ta ưa thanh nhàn
Còn như cúi mình theo người thì ta không có khả năng.
Dịch thơ:
Từng ước mơ bay chín vạn tầng
Giờ mong biển bắc giống chim bằng
Đáng than danh giả thành nia đấu
Khó để người sau dựa mực cân
Một tấm lòng son như thuốc luyện
Mười năm chức sạch tựa bầu băng
Thanh nhàn, ấy rõ điều ta thích
Luồn cúi theo người ta chẳng vâng.
(Bản dịch của Lê Cao Phan)
Căn cứ vào nội dung, có thể suy đoán bài thơ này được Nguyễn Trãi sáng tác khi đã hoàn thành sự nghiệp chống quân Minh giải phóng đất nước và đang còn làm quan tại triều Lê. Trong hoàn cảnh bọn quyền thần lũng đoạn triều chính, chí lớn giúp vua an dân của ông không thể thực hiện được, bản thân Nguyễn Trãi cũng bị chèn ép, vì vậy bài thơ chính là nỗi niềm của người anh hùng trước thời thế đổi thay, mang nặng tâm sự về nhân tình thế thái, bộc lộ rõ khí tiết thanh cao của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng.
Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, cô đúc những nỗi niềm sâu kín, cũng như thấy những xung đột giữa khát vọng và hiện thực, giữa quá khứ và hiện tại, khởi đầu của những bi kịch trong cuộc đời người anh hùng Nguyễn Trãi – một nhà nho tiết tháo, một kẻ sĩ cương trực.
Hai câu đề của bài thơ toát lên cốt cách và hào khí của người anh hùng mang chí lớn, thể hiện cái hào sảng ngất trời của con người đã góp công sức trong công cuộc Bình Ngô:
Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng
Đương niên thác tỷ bắc minh bằng
Kết hợp với hai câu thực, chúng ta mới nhận ra ý nghĩa của phần tiền giải trong bài thơ: Nguyễn Trãi đang tự giễu chính mình, đặt những khát vọng ước mơ của quá khứ đối mặt với thực tại để ý thức rõ hơn hoàn cảnh của mình. Con người từng mơ làm cánh chim bằng bay chín vạn tầng mây đâu phải là loại tầm thường dễ chịu khép mình vào trong vòng danh lợi! Con người ấy thực tế đã làm cánh chim bằng thoả chí lớn cứu nước trả thù nhà, góp công sức đuổi sạch quân thù ra khỏi bờ cõi. Thế nhưng, trong cái triều đình buổi đầu lập nước đã sớm xuất hiện bè phái nghi kỵ nhau, bản thân Nguyễn Trãi cảm nhận rõ sự lẻ loi của một người mang chí lớn:
Hư danh tự thán thành cơ đẩu
Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng
Với ông, công danh chỉ là thứ “hư danh” có thể làm hỏng con người mà thôi. Nguyễn Trãi từng viết trong một bài thơ khác những lời đầy cay đắng:
Hư danh thực họa thù kham tiếu
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên
Tấm lòng cô trung của ông đặt vào giữa một triều chính do bọn quyền thần thao túng quả là thứ “thực họa”. Thế nhưng, Nguyễn Trãi cũng kín đáo mượn tiếng cười giễu mình mà phê phán bọn người “hậu học” không thể hiểu nổi con người có chí cao như cánh chim bằng kia. Thực tế của triều Lê đã phơi bày bao nhiêu điều chướng tai gai mắt, khiến Nguyễn Trãi không khỏi chạnh lòng. Trong một bài thơ chữ Nôm, ông từng nhận thấy: “Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng – Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”! Một người đã thấm nhuần đạo lý phò vua giúp nước, muốn đem sở học của mình để đem lại quốc thái dân an, thế nhưng những trở lực bên ngoài khiến ông cảm thấy mình như bất lực. Nguyễn Trãi đã chọn lựa cách sống của mình theo đúng phương châm ứng xử của kẻ sĩ: “độc thiện kỳ thân”. Trong hoàn cảnh ấy, chúng ta thấy nhà thơ vẫn vững vàng một phẩm cách thanh cao :
Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng
Cái cứng cỏi, chính trực của Nguyễn Trãi hiện lên thật đáng để ta khâm phục. Ông sống không hổ thẹn với chức trách của mình. Lăn lộn giữa chốn quan trường “hư danh” ấy, ông vẫn giữ mình trọn vẹn “nhất phiến đan tâm” (một tấm lòng son) giữa lò luyện ngục. Đúng ra, Nguyễn Trãi có thể hoàn toàn cho phép mình được thụ hưởng những thành quả sau những công lao ông đóng góp cho việc bình Ngô phục quốc, thế nhưng con người ấy với tấm lòng ưu quốc ái dân canh cánh trước sau như một không đánh đổi mình. Đó là cái chí của bậc trượng phu : “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Mười năm giữa chốn quan trường, lòng ông thanh khiết như bầu ngọc. Bản thân ông tự hào về điều đó. Giữ được mình giữa chốn hư danh chẳng phải là điều khó lắm sao, nhưng Nguyễn Trãi đã khẳng định chính mình bằng phẩm chất thanh cao tuyệt vời, dửng dưng như băng tuyết trước bả vinh hoa phú quí. Con đường lánh xa danh lợi đã được ông chỉ ra trong hoàn cảnh luôn bị câu thúc cũng là con đường của bao kẻ sĩ chân chính:
Ưu du thả phục ngôn dư hiếu
Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng.
Chí “ưu du” đã được nhà thơ nói tới trong hoàn cảnh này, như thể hiện dứt khoát một sự chọn lựa. Đó không phải là thái độ tiêu cực lánh đời mà chính là cách xử sự theo đúng phương châm “hành tàng” của kẻ sĩ. Dũng khí của nhà thơ toát lên trong câu cuối: đến như việc cúi ngửa theo người thì ta không có khả năng! Nói về mình nhưng cũng thể hiện thái độ cương quyết với hạng người xu nịnh luồn cúi nhũng loạn triều đình. Câu thơ hàm ý mỉa mai nhưng đồng thời cũng chứa đựng nỗi đau đời của Nguyễn Trãi. Bởi thế nhan đề bài thơ là Mạn hứng thế nhưng đó chính là cô đúc những suy tư thời cuộc và bộc lộ thái độ kiên quyết đứng ngoài vòng danh lợi của nhà thơ.
II. Mạn thuật (bài 30):
Chân chăng lọt đến cửa vương hầu,
Ấy tuổi nào thế đã bạc đầu.
Liệu cửa nhà xem bằng quán khách,
Ðem công danh đổi lấy cần câu.
Thân đà hết lụy thân nên nhẹ,
Bụt ấy là lòng bụt há cầu.
Bui một quân thân ơn cực nặng,
Tơ hào chưa báo hãy còn âu.
Nếu ở những bài Mạn hứng trong thơ chữ Hán ta gặp một Nguyễn Trãi với nỗi băn khoăn thời thế, chủ yếu trong cương vị của một ông quan đương triều thì ở thơ chữ Nôm, ta lại gặp một Nguyễn Trãi trong chùm Mạn thuật với tư cách một người đã nhẹ bước phong vân, giã từ danh lợi tầm thường. Dù ở cương vị nào, ông vẫn nguyên vẹn là một người hết lòng vì dân vì nước, cốt cách thanh cao, tâm hồn trong sạch. Đó cũng là tinh thần chung của chùm bài Mạn hứng.
Toàn bộ bài thơ là hình ảnh của Nguyễn Trãi gắn với thái độ bình thản trước danh lợi, bộc lộ một nhân cách cao quí. Con người đời thường giản dị ấy đã có khoảnh khắc ngắm nhìn lại mình:
Chân chăng lọt đến cửa vương hầu,
Ấy tuổi nào thế đã bạc đầu.
Không màng đến cửa vương hầu, đó là cách mà Nguyễn Trãi muốn khẳng định mình, khi công danh đã thành miếng bả cho những kẻ tham danh cầu lợi xâu xé. Nỗi buồn thời thế đọng lại thành suy tư về thân phận, trong mái đầu bạc không chỉ vì thời gian mà vì những nỗi niềm thời thế. Nguyễn Trãi đã xuất hiện với tư cách của một người rũ sạch danh lợi, tìm về với cuộc sống ẩn sĩ:
Liệu cửa nhà xem bằng quán khách,
Ðem công danh đổi lấy cần câu.
Trong câu thơ này, ít nhiều Nguyễn Trãi đã chịu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo và tư tưởng Đạo gia xem cuộc đời là hư huyễn. Phải chăng trong đó có nỗi niềm chán ngán khi đối sánh những cái hư – thực, có – không? “Cửa nhà” như “quán khách”, thú vui con người là chiếc cần câu gắn với cuộc đời của một ông Ngư. Người ta câu lợi danh, còn Nguyễn Trãi thì ung dung cuộc sống hoà nhập với thiên nhiên, với thú nhàn. Trong một bài thơ khác, Nguyễn Trãi cũng từng viết:
“Công danh đã được hợp về nhàn
Lành dữ âu chi thế nghị khen”
Cuộc sống quen với áo nâu bô cật vận xênh xang thật đầy hứng thú, có thể giúp người anh hùng quên đi những nỗi đời nặng trĩu? Thái độ phủ nhận danh lợi trước sau như một của Nguyễn Trãi liệu có mang dấu ấn của tư tưởng bi quan yếm thế hay cậy nhờ học thuyết vô vi của Đạo gia? Trong hai câu luận, nhà thơ viết:
Thân đà hết lụy thân nên nhẹ,
Bụt ấy là lòng bụt há cầu.
Bản thân nhà thơ đã tự bộc lộ con người đầy cá tính của mình qua hai câu thơ này. Xem lợi danh nhẹ tựa lông hồng, với Nguyễn Trãi, một ngày ở chốn quan trường là phải gánh lụy trần gian đầy hung hiểm. Bởi thế rũ bỏ khỏi những ám ảnh lợi danh, ông cảm thấy sung sướng nhẹ gánh. Tuy nhiên, Nguyễn Trãi cũng không chọn con đường an ủi bằng cách trốn tránh vào những triết lý hư vô. Tâm hồn ông đã đạt đến ngộ tính, bởi những thăng trầm thế sự đã được ông chiêm nghiệm và hiểu rõ: “Nhân gian mọi sự đều nguôi hết”. Ông hiểu chốn quan trường hiểm ác, nghi kỵ lẫn nhau, bởi vậy rũ áo ra đi lòng ông không hề vướng bận. Không đi tìm một niềm tin mơ hồ nơi cửa Phật, cũng không hoàn toàn đắm chìm vào triết lý của Đạo gia, trước sau như một Nguyễn Trãi vẫn là một con người của lý tưởng “trí quân trạch dân”:
Bui một quân thân ơn cực nặng
Tơ hào chưa báo vẫn còn âu.
Đây không phải là lần đầu tiên Nguyễn Trãi nhắc đến khái niệm “quân thân”. Nỗi đau ấy từng theo ông trong bao đêm mất ngủ, trằn trọc nhìn vầng trăng lạnh, từng làm nên bóng dáng cô đơn của ông giữa đêm hàn:
Bình sinh độc bão tiên ưu chí
Toạ ủng hàn khâm dạ bất miên
Không ngủ vì bên lòng canh cánh chí “tiên ưu”, không ngủ cũng vì “một sự quân thân chẳng khứng nguôi”. Đúng như nhận xét khái quát của PGS.TS Lã Nhâm Thìn về con người Nguyễn Trãi trong thơ, đó là “con người trọng nhân nghĩa, khinh quyền mưu, lấy cái huyễn ảo của Đạo gia để phủ nhận danh lợi; con người thức tỉnh, ý thức về cá nhân; theo thuyết “ái ưu” của Nho gia, chỉ nhắc đến “tiên ưu”, không nhắc đến “hậu lạc.” Nguyễn Trãi trong bài thơ này vẫn một tư thế cứng cỏi, đối mặt với bi kịch chính mình bằng tinh thần trước sau như một của một “mái đầu bạc” nhưng vẫn vẹn “tấm lòng son”.
Đọc thơ Nguyễn Trãi, dù chữ Nôm hay chữ Hán, ta đều nhìn thấy trọn vẹn chân dung của một anh hùng, một thi nhân, một con người chính trực kiên cường mà cũng rất ung dung bình thản. Thơ là nhân cách, là tâm hồn Nguyễn Trãi, “trong sáng và đầy sức sống” (Phạm Văn Đồng).
Ngày 15 tháng 3 năm 2008
Trần Hà Nam

Thơ thiên nhiên trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi)


Tìm hiểu kho tàng thơ chữ Nôm và chữ Hán của Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế, chúng ta có thể thấy một nét đặc sắc trong những bài thơ thiên nhiên của ông. Cùng viết về thiên nhiên, nhưng những bài thơ chữ Hán trong Ức Trai thi tập có sự khác biệt trong đề tài, cảm hứng, chủ đề, tư tưởng cũng như nghệ thuật ngôn ngữ, xây dựng hình tượng so với thơ chữ Nôm trong Quốc âm thi tập.
Nói đến thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, trước hết chúng ta cần đặt trong mối quan hệ qui chiếu với cuộc đời của nhà thơ để giải mã rõ hơn cảm hứng cụ thể trong từng tác phẩm ở hai tập thơ. Đây là vấn đề đòi hỏi quá trình khảo cứu công phu và thuộc phạm vi nghiên cứu của một công trình lớn. Người viết chỉ xin được so sánh mảng thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi ở thơ chữ Hán và thơ chử Nôm của ông ở những khía cạnh cơ bản nhất, trên cơ sở phân tích một số tác phẩm tiêu biểu và tương đối quen thuộc với chúng ta lâu nay.
Theo một truyền thống thi ca trung đại “cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ” (Hồ Chí Minh), những bài thơ của Nguyễn Trãi dành một số lượng khá lớn viết về thiên nhiên. Thiên nhiên gắn với cuộc đời thăng trầm đầy bi kịch của người anh hùng, như cũng soi chiếu tâm tư của chính nhà thơ trong những hoàn cảnh khác nhau.
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày
Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay
Hổ phách phục linh nhìn mấy biết
Dành, còn để trợ dân này
Những câu thơ Nguyễn Trãi viết về Tùng như sự khẳng định nhân cách của chính ông, một con người cả đời canh cánh nỗi lòng “ưu quốc ái dân”. Nguyễn Trãi tìm về thiên nhiên và để lại hàng trăm bài thơ chữ Hán và chữ Nôm, hầu như bài thơ nào cũng toát lên vẻ đẹp lồng lộng thanh cao và cứng cỏi như dáng tùng vững chãi giữa tuyết sương.
Trong buổi đầu của nền thi ca trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi đã tạo dựng nên một kiểu nhà nho – nghệ sĩ đích thực, khi tâm hồn ông hoà quyện với từng vẻ đẹp đất nước, rung động trước non nước mây trời, cỏ cây hoa lá để người đời sau hình dung đầy đủ diện mạo của con người có tấm lòng sáng tựa “sao Khuê buổi sớm” ấy. Lúc làm quan giữa triều, khi về ở ẩn sống đời thanh bần giữa núi rừng, dù ở đâu thiên nhiên vẫn chiếm một địa vị quan trọng, một người bạn tâm giao để Nguyễn Trãi kí thác nỗi lòng luôn quặn thắt những ưu tư thời thế:
Non cao non thấp mây thuộc
Cây cứng cây mềm gió hay
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết
Bui một lòng người cực hiểm thay
Đề tài thiên nhiên trong thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi vô cùng phong phú như phản chiếu cuộc đời lắm thăng trầm của chính ông. Nếu như trong thơ chữ Hán, ta gặp nhiều địa danh gắn với quãng đời sôi nổi, với hoài bão « trí quân trạch dân », với tầm nhìn bao quát lịch sử, chiêm nghiệm thời thế một cách cụ thể thì ở thơ chữ Nôm lại là những cảm xúc tinh lọc thăng hoa trong những đề tài tưởng như mòn cũ vì ước lệ « tùng, trúc, cúc, mai », « phong, hoa tuyết nguyệt ». Nhưng dù cho đề tài cụ thể hay trừu tượng thì Nguyễn Trãi đều thể hiện con người đầy cá tính của ông một cách rõ nét trước thiên nhiên.
Cảm hứng bao trùm trong những bài thơ chữ Hán viết về thiên nhiên phải chăng có thể khái quát trong hai câu thơ này của Nguyễn Trãi :
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc
Anh hùng hữu hạn diệp tiêu tiêu
Ngay cả những bài thơ chữ Hán thấm đẫm phong vị trữ tình cũng phảng phất nỗi niềm người anh hùng trước lẽ hưng phế, đọng lại những hoài niệm về các triều đại đã qua. Dù cho đó là cảnh đã bao nhiêu lần thưởng ngoạn thì vào thơ, Nguyễn Trãi vẫn tạo được những rung động khác thường. một Dục Thuý sơn qua cảm xúc của ông hiện rõ là nơi « tiên cảnh trụy trần gian » với vẻ đẹp thật diễm lệ :
Tháp ảnh trâm thanh ngọc
Ba quang kính thúy hoàn
Vẻ diễm kiều như một nàng thiếu nữ của núi Dục Thúy cũng không làm ông nguôi ngoai hoài niệm về bậc tài danh tiền bối Trương Hán Siêu, trong mối đồng cảm của người đề thơ núi Thuý. Đó không chỉ là gặp gỡ của hồn thơ yêu cảnh đẹp, mà còn là nhớ bậc tiền nhân đã cống hiến tài trí phò vua giúp nước : Hữu hoài Trương Thiếu bảo – Bi khắc tiển hoa ban. Nhiều bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi thường khắc hoạ những phong cảnh hùng vĩ của đất nước với bút lực cuồn cuộn, với hơi văn dào dạt như thuở Bình Ngô : một Thần Phù hải khẩu :
Kình phun lãng hống thôi nam bắc
Sóc ủng sơn liên ngọc hậu tiền
Hay một Vân Đồn « thiên khôi địa thiết phó kì quan », một Bạch Đằng hải khẩu :
Sóc phong xuy hải khí lăng lăng
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng
Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Cảnh ấy, tình ấy gắn với niềm tự hào dân tộc lớn lao, bởi những danh thắng cũng đồng thời gắn với những anh hùng mà bản thân nhà thơ ngưỡng vọng : THần Phù là nơi anh hùng Hồ Quí Ly chống sự xâm lăng của vua Chiêm Chế Bồng Nga, Vân Đồn vang danh chiến công của Trần Khánh Dư và bao triều đại anh hùng vùi thây quân giặc cướp trên sóng Bạch Đằng. Nhưng đồng thời, Nguyễn Trãi còn nhận ra những mối tương quan trời đất và con người khi suy ngẫm trước cảnh trời đất vô cùng, để ngậm ngùi cho mối hận anh hùng, để suy ngẫm về gốc rễ vững bền của đất nước :
Phúc chu thủy tín dân do thuỷ
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỉ thiên niên
(Quan hải)
Có lẽ chưa ai nhìn thiên nhiên đất trời mà luận anh hùng sâu sắc như Nguyễn Trãi, anh hùng là phẩm chất cá nhân, nhưng muốn thành nghiệp lớn phải gắn với nhân dân như thuyền với nước.
Tiếp xúc với thiên nhiên trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập, chúng ta có thể nhận thấy ý kiến đánh giá của PSG.TS Lã Nhâm Thìn thật xác đáng: đó là một thiên nhiên kỳ vĩ, hoành tráng nhưng cũng đồng thời mỹ lệ, thi vị; thiên nhiên gắn với những địa danh như một cuốn nhật kí gắn với cuộc đời phong phú từng trải của Nguyễn Trãi; qua đó ta nhận ra một tâm hồn cao rộng, khoáng đạt, phong tình và tinh tế. Phần lớn những bài thơ của Nguyễn Trãi viết về thiên nhiên bằng chữ Hán đều tuân thủ nghiêm ngặt thể loại Đường luật nhưng không hề gò bó cảm xúc. Thơ thiên nhiên gắn với tâm hồn trí tuệ của một con người lừng danh “viết thư, thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời” cũng mang theo cái mạnh mẽ phóng khoáng của một tấm lòng nặng niềm “ưu ái”, bao giờ cũng phảng phất bóng dáng con người hăm hở gánh vác giang sơn, trổ tài kinh bang tế thế để thực hiện hoài bão trí quân trạch dân. Bên cạnh đó là một thiên nhiên chất chứa ưu tư.
Cùng chung cảm hứng này, trong những bài thơ Nôm, Nguyễn Trãi lại có dịp bộc bạch nhiều ưu tư hơn. Ông tìm thấy trong thiên nhiên những bài học lớn, đặc biệt là thiên nhiên trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới ở Quốc âm thi tập. Quãng đời lui về ẩn cư quê ngoại Côn Sơn giúp Nguyễn Trãi có dịp hoà nhập với thiên nhiên hết mình hơn, khi “công danh đã được hợp về nhàn”, những cảm xúc thiên nhiên trong chùm thơ Mạn thuật, Thuật hứng, những cảm nhận về hoa cỏ trong Hoa mộc môn…cũng bộc lộ con người ông thật bình dị gần gũi. Ta cũng nhận ra chân dung tâm hồn Nguyễn Trãi sinh động tự nhiên hơn trong những vần thơ dân dã nôm na.
Thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi là cả một không gian bát ngát tình người, tràn căng sức sống “thế giới đông lên ngập một bầu”. Điểm khác biệt về cảm hứng giữa thơ chữ Nôm và thơ chữ Hán xuất phát từ chính những nét đặc biệt trong hoàn cảnh của nhà thơ khi về ẩn cư:
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then…
(Thuật hứng)
Vẫn là “phong nguyệt yên hà” nhưng có cái mềm mại lung linh trong cảm xúc của một hồn thơ nhạy cảm. Trong cuộc sống của vị hưu quan, vẫn còn ắp đầy những hoài bão hướng về cuộc đời trăn trở niềm “tiên ưu”. Cuộc sống thanh bình của dân gian cũng tạo nên niềm vui giúp ông vượt lên nỗi niềm riêng:
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ, khắp đòi phương
(Bảo kính cảnh giới, 43)
Thiên nhiên đến với nhà thơ trong tư cách “Núi láng giềng, chim bầu bạn, mây khách khức, nguyệt anh tam”, nên ông cũng thả lòng mình thật tự nhiên không rào đón. Nếu như đọc thơ chữ Hán, ta đã gặp một Nguyễn Trãi với Côn Sơn ca thật tiêu dao:
Côn Sơn hữu tuyền
Kỳ thanh linh linh nhiên
Ngô dĩ vi cầm huyền
Côn Sơn hữu thạch
Vũ tẩy đài phô bích
Ngô dĩ vi đạm tịch
Nham trung hữu tùng
Vạn cái thuý đồng đồng
Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung…
Thì trong thơ chữ Nôm, ông còn thoải mái viết những câu vượt ra khỏi mọi ràng buộc câu thúc lễ nghi để thật sự hoà đồng cùng cây cỏ đất trời:
Già chơi dầu có của no dùng,
Chén rượu câu thơ ấy hứng nồng.
Ngỏ tênh hênh nằm cửa trúc,
Say lểu thểu đứng đường thông…
(Thuật hứng, 16)
Ta nhận ra một Nguyễn Trãi thật tự do phóng khoáng giữa đất trời, thật táo bạo với những từ ngữ thuần Việt đắt giá “tênh hênh”, “lểu thểu” mà vẫn không suồng sã, tưởng khó thành thơ mà vẫn lộ rõ cốt cách thanh cao nhưng giản dị của Nguyễn Trãi. Thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi thường nói về cảnh nhàn, cuộc sống nhàn rỗi bất đắc dĩ nhưng không vì thế làm mất đi vẻ thư thái tự tin của nhà thơ: “Quét trúc bước qua lòng suối – Thưởng mai về đạp bóng trăng”. Bên cạnh những bài thơ vịnh cảnh theo truyền thống với những biểu tượng thiên nhiên gắn với người quân tử như “tùng trúc cúc mai” còn là những loài hoa cỏ bình thường nhưng lại toả ra phẩm chất thi nhân của Nguyễn Trãi tinh tế nhất. Thưởng thức lại những vần thơ cô đọng mà thấm đượm vẻ tình tứ trong bài Cây chuối, ta mới thấy Nguyễn Trãi đã vượt trước thời đại mình biết bao nhiêu:
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đầy buồng lạ mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem
Hồn thơ ấy cũng không gò bó câu thúc trong khuôn khổ thơ luật Đường mà tìm cách thể hiện cá tính của mình trong những phá cách lục ngôn. Nghiêm cẩn trong thơ chữ Hán bao nhiêu thì ông lại phóng túng trong thơ chữ Nôm bấy nhiêu, đó cũng là dấu ấn đặc sắc của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập. Người đọc có thể hình dung một Nguyễn Trãi “Cơm ăn chẳng quản dưa muối – Áo mặc nài chi gấm thêu” giữa một thiên nhiên rất giàu cảm xúc và đậm nét đời thường:
Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao.
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch ,
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao
Khách đến vườn còn hoa lạc,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào
(Mạn thuật, 35)
Bản thân nhà thơ dẫu chán ngán cảnh quan trường, nhưng không hề run sợ khuất phục trước cường quyền, không phải lánh đời theo triết lý “độc thiện kỳ thân” mà chính thiên nhiên tiếp cho ông sức mạnh, tìm ra cách ứng xử với bọn quyền thần một cách đầy dũng khí. Thiên nhiên ấy hun đúc nên một Nguyễn Trãi đầy khí phách:
Mai chăng bẻ thương cành ngọc,
Trúc nhặt vun tiếc cháu rồng
Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.
(Ngôn chí, 50)
Qua những bài thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Trãi, ta có thể nhận ra đầy đủ về chân dung một con người hội tụ “khí phách của dân tộc, tinh hoa của thời đại”. Thiên nhiên mà ông tìm đến cũng là một thiên nhiên đầy sức sống, thanh cao như tâm hồn ông luôn cuồn cuộn hoài bão lo cho dân cho nước. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những vần thơ của ông vẫn toát lên vẻ đẹp của con người chân chính và “tài năng làm hay làm đẹp cho nước xưa nay chưa từng thấy” đúng như những lời ca ngợi hậu thế dành cho ông.