Tư cách người lính


“Vui gì hơn làm người lính đi đầu
Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa…”
Tôi vẫn nhớ những vần thơ rất đẹp về tư cách người lính, gợi nhớ ánh sáng rừng rực cháy tỏa ra từ trái tim Đan-ko trong truyện của M. Gorki! Từ thời còn là học sinh đến nay, tôi cũng đã từng viết bao nhiêu bài văn về người lính cách mạng!
Người lính! Khái niệm ấy thiêng liêng vô cùng, không phải ai cũng nhận xằng nhận bậy được! Và tư cách người lính, không phải chỉ vì anh đã từng khoác áo quân nhân hay tham gia du kích. Nó biểu hiện ngay cả khi người lính ấy đã rời quân ngũ, trở về với đời thường.
Tôi nhớ đến những người lính tôi từng gặp trong đời: anh Trâm, đại úy, người bảo vệ đoàn chuyên gia Hàn quốc đã đi cùng tôi trong hành trình ròng rã gần 3 tháng ở rừng núi Konchro – Gia Lai. Người anh xanh mét vì dấu ấn những cơn sốt rét rừng, nhưng ánh mắt cực kì tinh anh. Và tay súng thiện xạ của anh, nhân một lần nghỉ giữa ven rừng, đã làm cho những chuyên gia Hàn quốc kính nể và thêm phần an tâm, khi điểm xạ trúng mục tiêu cách hàng chục mét, là một trái nhỏ trên cành cây đung đưa trong gió. Họ đâu biết anh từng suýt được phong anh hùng trong những đợt càn quét tàn quân Fulro, từng bao lần vào sinh ra tử để đem lại sự bình yên cho buôn làng Tây Nguyên. Anh từng trò chuyện tâm sự bao phen cùng tôi về cuộc sống, để tôi thêm hiểu và kính trọng anh. Chính anh, bằng uy tín của mình, chỉ bằng một lời nói đã bảo vệ cho tôi khỏi sự bủa vây hung hăng của mấy chàng lính trẻ háu đá chỉ vì chút hiểu nhầm mà tính ăn thua đủ cùng tôi – gã trai 25 tuổi thừa máu nóng mà thiếu kinh nghiệm sống. Anh chính là ân nhân lớn của đời tôi, là người anh dạy tôi cách sống như một người lính!
Tôi nhớ đến những đồng nghiệp của tôi, giã từ nghiệp lính trở về cùng bục giảng. Anh là người anh lớn đã lăn lộn miệt mài trong chuyên môn, đào tạo nên những học sinh giỏi quốc gia, cũng là người rất xông xáo trong các hoạt động phong trào, là người sáng lập và luôn đóng vai trò chủ chốt trong những cuộc giao lưu truyền thống “Thầy giáo – thầy thuốc – anh bộ đội cụ Hồ”. Cũng nhờ anh, tôi được tiếp xúc với những thầy thuốc – quân y, những người lính thực thụ, để cùng say sưa hát những bài ca đi cùng năm tháng, về một thời đạn bom máu lửa, ca ngợi những người chiến sĩ đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những người lính – thời bình vẫn tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp, đóng góp xây dựng đơn vị, xây dựng quê hương bằng trái tim còn nguyên vẹn lửa nhiệt tình!
Tôi nhớ người mẹ kính yêu đã khuất của tôi, chiến sĩ quân báo từng bao phen vào sinh ra tử, chịu tù đày tra tấn, nổi danh “gan lì cóc tía” trong các nhà tù của thực dân Pháp, một dạ kiên trung. Mẹ tôi, gần gũi thân thương và dịu dàng, tần tảo thế! Chỉ những khi trở trời, người mẹ đau nhừ vì ảnh hưởng tù đày, tôi mới càng cảm phục sự bền bỉ kiên cường trong vóc dáng nhỏ thó. Mẹ khi làm việc, xông xáo gây dựng phong trào nhà trẻ, không bao giờ mệt mỏi. Và mẹ chẳng khi nào có kiểu vỗ ngực xưng tên, kể lể công thần về một thời từng là đội viên của đội biệt động, là lính của ông Trần Thành Ngọ nức tiếng Hải Phòng. Cũng chẳng cần treo chễm chệ trong nhà những “Huy chương kháng chiến hạng Nhất” thời chống Pháp hay “Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì”, chỉ khi mẹ mất đi, chúng tôi mới lục ra để giữ lại như kỉ niệm tự hào về mẹ. Mẹ chính là “người lính” gần gũi nhất của đời tôi.
Tư cách người lính là vậy! Không cần đến một bó hoa tôn vinh, không cần đi đâu cũng vỗ ngực xưng danh mà cứ lặng thầm cống hiến. Tư cách ấy, không phải là thứ để đem lòe thiên hạ, cũng chẳng thể đưa ra làm chứng nhận để phục vụ cho những toan tính tầm thường.
Tư cách người lính, đẹp trong mọi lúc, chính là ở những việc làm hàng ngày góp phần ổn định và phát triển đơn vị, là nhân cách đẹp cho thế hệ sau ngưỡng mộ và học tập, là ngọn lửa lặng thầm cháy và lan tỏa sức ấm nóng yêu thương, tạo bầu không khí thân mật ấm áp chan hòa…

Cuối cùng cũng đã có bằng


Bão số 9 làm mình không đi Hà Nội lãnh bằng được. Trầy trật mãi rồi nhờ được chú Bang tận tình giúp mà giờ có bằng trong tay rồi. Trông cũng oách ra phết!

By Trần Hà Nam Posted in Không phân loại Tagged

Triết lí nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn.




    Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân , vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.
    Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để  bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.
    Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị :
    Một mai, một cuốc, một cần câu
    Thơ thẩn dù ai vui thú nào

    Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí  của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc,cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đàng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ  làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.
    Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:
    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người kiếm chốn lao xao

Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai , những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực : một bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghễ, một bên là Người ; một bên là dại của Ta, một bên là khôn của người ; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề  khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao . Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa « Người đời tỉnh cả, một mình ta say » đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử  không bận tâm những trò khôn – dại . Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản :
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất  đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng  bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư . Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát tục, tiêu biểu cho quan niệm « độc thiện kỳ thân » của các nhà nho . đồng thời có nét gần gũi với triết lí  « vô vi » của đạo Lão, « thoát tục » của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình . Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hoà hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình.  Quan niệm về chữ  Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định :
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình :
 Ở thế mới hay người bạc ác
Giàu thì tìm đến, khó thì lui

        (Thói đời)
Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và  lên án trong bài thơ Tăng thử (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như  giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.
Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn  tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính./.T.H.N

ĐÀN GHI TA CỦA LORCA – Bình thơ


/* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:”Table Normal”; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:””; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:”Times New Roman”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;} ĐÀN GHI TA CỦA LORCA
Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghita
* F.G. Lorca
những tiếng đàn bọt nước
Tây-Ban-Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
Tây-Ban-Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi-ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la…

(Khối vuông Rubic – NXB TPM – 1985)
Tôi đã yêu bài thơ này bằng tình yêu nguyên thủy của một chàng trai mới lớn, vì cái chất lãng tử cứ hiện ra trên từng dòng thơ. Tưởng như Thanh Thảo đã thật sự có những khoảnh khắc hoá thân, nhập vai để sống tận cùng chất nghệ sĩ của G. Lorca. Trong một tập thơ mà anh từng tuyên bố : « Tôi thích tỉnh rụi, tỉnh khô, tỉnh như sáo …» thì bài thơ như một hiện hữu đối lập của Khối vuông rubic. Nhưng đến giờ, ngẫm kỹ lại thì bài thơ vẫn rất tỉnh vì đã đem lại cho người đọc một chân dung thật nhất, rõ nhất về G.Lorca – nhà thơ, nhạc sĩ tài hoa của xứ sở bò tót và đấu sĩ.
Thanh Thảo là người có biệt tài ám ảnh người khác bằng cái tỉnh rụi như không, khi viết những câu thơ tưởng không có gì mà nếu muốn bắt chước anh viết thử như vậy thì chẳng khác nào nàng Đông Thi bắt chước Tây Thi nhăn mặt để tự biến mình thành ngớ ngẩn. Từ một Đêm trên cát viết về Cao Bá Quát bắt đầu với những mắt cá ngủ mê trong điện Thái Hoà – một ẩn dụ để hiện lên sau đó một nhân vật đầy suy tư về thời đại, rất xưa mà rất mới – cho đến một nỗi niềm ta như chú nghé thèm đám cỏ trong một bài thơ nho nhỏ Đất Cù Trâu cũng vẫn là một ẩn ức được diễn tả một cách rất quái theo kiểu Thanh Thảo. Dài dòng như vậy vì sau này tôi mới đọc anh nhiều để nghiệm ra, còn lúc ấy dù rất ngạo mạn hay phê bậy bạ vào các trang thơ của các tiền bối những lời chê phạm thượng (tất nhiên chẳng loại trừ anh), tôi đã phải ghi ngay một chữ « Hay ! » bên lề trang sách ngay khi vừa đọc « những tiếng đàn bọt nước …». Ám ảnh sắc màu đỏ gắt, âm thanh li-la li-la li-la cứ theo tôi suốt một thời gian dài (sau này tôi mới kịp hiểu li-la còn là tên một loài hoa theo tiếng Tây Ban Nha). Để rồi, theo bước chân chàng lãng tử , theo câu thơ lãng tử, tôi chứng kiến một sự sống G.Lorca đi lang thang về miền đơn độc, đi như người mộng du, tôi thả hồn theo tiếng ghi-ta nâu, tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy, tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy. Tưởng chừng tôi thấy rõ G.Lorca đối diện với họng súng mà tâm hồn còn mải miết hướng về bầu trời cô gái ấy, không màng cái chết cận kề. Tôi theo tiếng ghi-ta, theo hành trình Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghi-ta màu bạc… Tất cả làm thành một cảm tính thơ không thể cắt nghĩa cho đến tận bây giờ đã hai mươi năm trôi qua vẫn còn nguyên vẹn. Giọt nước mắt vầng trăng làm nên phút thăng hoa âm thanh bất diệt li-la li-la li-la cứ ngân mãi, hoà quyện cả màu sắc, âm thanh, ánh sáng, sự sống thành một thể thống nhất. Định Mệnh – lá bùa trôi vào xoáy nước khép lại một cuộc đời người chiến sĩ chống phát-xít kiên cường, chàng ném trái tim mình vào lặng im bất chợt, nhưng tiếng đàn – hồn thơ vẫn như lan toả trên dòng sông cuộc sống vĩnh cửu, mà mỗi giọt – âm – thanh ấy tan hoà thành sắc li-la tím mãi màu tưởng vọng.
Thanh Thảo đã từng viết : « Lorca là nhà thơ của những giấc mơ, của những linh cảm nhoi nhói, một nhà thơ có thể biến những giấc mơ thành nhịp điệu, có thể biến những linh cảm thành ngôn từ. Lorca siêu thực một cách tự nhiên, và hiện thực một cách tự nhiên » (Lorca trong tôiMãi mãi là bí mật, NXB Lao động, 2004). Một nhà thơ đã có một Lorca trong lòng như vậy, nên Đàn ghi-ta của Lorca có thể xem như là một gặp gỡ đẹp tạo thành phút « bùng nổ » của năng lượng sáng tạo Thanh Thảo. Với những bài thơ như vậy, dường như mọi lời bình giải bỗng thành… vô duyên !

Quy Nhơn, 31 tháng 8 năm 2005
TRẦN HÀ NAM
(Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định)

Trần Hà Nam – nhà mới


Lại làm tiếp một ngôi nhà blog mới! Như một chặng đường mới, đăng sáng tác mới, gặp bạn bè mới và lưu một vài cái cũ còn dùng tốt!
Nơi đây, gạt qua mọi hỉ nộ ái ố, những thành kiến thiên kiến, những cãi cọ vô bổ, hòng lưu lại chút gì đó mà bản thân tôi cảm thấy thú vị, có` ich cho bàn thân và mọi người!
Chào cả làng bằng một bài hát cho vui cửa vui nhà!