Tháng 11


Thấm thía cái cảm giác ngồi không. Đầu rỗng không. Học trò bảo: sao thầy chỉ dạy có một lớp thôi? Thầy bảo: một lớp nhưng tính giờ thì dư 1 tiết rồi. Theo sự phân công thôi! học trò ra trường rồi thì bảo: lãng phí nhân lực quá! Ừ thì thầy cũng biết là lãng phí! Và chính bản thân thầy cũng lãng phí thời gian khi dạo này lên mạng chả làm gì ngoài việc lang thang, lằng nhằng hết sạch thời gian. …

Tiếp tục đọc

Trần Hà Nam – nhà mới


Lại làm tiếp một ngôi nhà blog mới! Như một chặng đường mới, đăng sáng tác mới, gặp bạn bè mới và lưu một vài cái cũ còn dùng tốt!
Nơi đây, gạt qua mọi hỉ nộ ái ố, những thành kiến thiên kiến, những cãi cọ vô bổ, hòng lưu lại chút gì đó mà bản thân tôi cảm thấy thú vị, có` ich cho bàn thân và mọi người!
Chào cả làng bằng một bài hát cho vui cửa vui nhà!

Truyện nôm Quán Âm Thị Kính


I. Mở đầu:

I.1. Truyện Nôm từ lâu đã trở thành một di sản quí báu trong kho tàng văn học dân tộc. Nhiều tác phẩm đã đi vào trong cuộc sống thường ngày, thành lời ru con trẻ, chuyển thể sang các loại hình nghệ thuật khác như chèo, cải lương, hát bội…Nhân dân ta đã đúc kết nhiều giá trị tinh tuý của tâm hồn dân tộc trong các truyện Nôm, giáo dục các thế hệ sau về những tấm gương đạo đức, những bài học về đối nhân xử thế, về nhân tình thế thái, vun đắp lối sống lành mạnh trong sáng. Rõ ràng trong truyện Nôm đã gói ghém rất nhiều bài học cho hậu thế.  Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi tìm hiểu quan điểm lý giải số phận con người qua một truyện Nôm cụ thể: Quán Âm Thị Kính.

I.2. Quán Âm Thị Kính là một truyện Nôm nổi tiếng có ảnh hưởng rất nhiều trong dân gian, gắn liền với tích về kiếp thứ mười của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Văn bản được đưa ra khảo sát là bản của Thiều Chửu hiệu đính, do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1994. Trong đó, phần giải thích tiêu đề tác phẩm Quán Âm Thị Kính Bản Hạnh Tiêu Thích đã nói rõ mục đích chia ra từng phần để giải thích rõ hơn về giáo lý đạo Phật thông qua cuộc đời của Thị Kính – Kính Tâm. Nhưng chúng ta có thể khẳng định một điều: bên cạnh việc giáo hoá Phật pháp, tác phẩm còn chứa đựng những quan điểm nhân dân nên đã tạo ra một hình tượng Phật Bà Quán Âm rất gần gũi với đời thực. Sự kết hợp tư tưởng Phật giáo và tư tưởng nhân dân đã đem lại cho chúng ta những góc nhìn thú vị xung quanh việc lí giải về số phận con người, đặc biệt giúp chúng ta hình dung rõ hơn về người phụ nữ trong xã hội phong kiến với cuộc sống trăm đắng ngàn cay và những phẩm hạnh tốt đẹp. Tác phẩm đã có sự chi phối của hai luồng tư tưởng, tạo nên mối giao thoa giữa Đạo và Đời, thể hiện rõ cách đánh giá của người bình dân ngày xưa về con người, xoay quanh cuộc đời của nhân vật trung tâm Thị Kính – Kính Tâm. Bên cạnh đó, là những nhân vật như Thiện Sĩ, Thị Mầu, Mãng ông Mãng bà liên quan trực tiếp đến nhân vật cũng sẽ là những nét bổ sung nhằm làm rõ quan điểm lý giải số phận con người của tác phẩm.

I.3. Cuộc đời của Thị Kính phải chịu nỗi oan khuất bắt đầu từ một niệm khởi từ tiền kiếp, khi đức Quán Âm đã không vượt qua sắc giới:

Có chăng kiếp khác họa là

Kiếp này sợi chỉ chót đà buộc tay.

Kiếp thứ mười lại là nữ nhi, đức Quán Âm đã gánh chịu tất cả những thiệt thòi oan uổng để rồi với một chữ Nhẫn đã vượt qua thử thách, tu thành chánh quả! Hai đoạn đời Thị Kính – tiểu Kính Tâm của nhân vật đều phải đối mặt với những bi kịch nhân sinh, những bi kịch mang ý nghĩa xã hội sâu sắc! Đằng sau những câu thơ nhằm tán dương phẩm chất của một đấng cứu khổ cứu nạn, ta bắt gặp con người của đời thực chịu bao nhiêu khổ nạn, mà điểm xuất phát từ chính những mối quan hệ gia đình xã hội với bao thành kiến tiềm ẩn bi kịch dành sẵn cho những con người thấp cổ bé họng, hiền lành lương thiện.

II. Thị Kính – góc nhìn con người từ quan hệ gia đình:

II.1. Đứng từ góc nhìn Phật giáo, việc Thị Kính phải chịu nỗi oan giết chồng chính là căn nguyên giúp cho Thị Kính tìm đến cửa Phật sau này, chọn con đường của bậc chân tu để vượt lên những tham dục chốn hồng trần. Chúng tôi xin phép không đề cập lại những yếu tố mang nặng tính minh họa tư tưởng của đạo Phật đã được Thiều Chửu thích nghĩa trong cuốn sách đã nêu mà chỉ đối chiếu mối quan hệ giữa hai yếu tố Đạo và Đời nhằm tìm ra thực chất quan điểm chi phối cách lý giải số phận con người trong tác phẩm, vấn đề đặt ra là tác phẩm nhằm giáo dục đạo đức cộng đồng hay đề cao vào con người cá nhân với những bi kịch và khát vọng riêng, trả lời những câu hỏi do cuộc đời đặt ra. Trong hệ thống truyện Nôm bình dân, yếu tố tai biến là trung tâm để làm bật lên những phẩm chất nhân vật trong hoàn cảnh éo le nhất. Đúng như PGS.TS Đinh Thị Khang đã nhận xét: “Nhóm truyện Nôm bình dân thường viết về nội dung đấu tranh bảo vệ quyền sống, giá trị, hạnh phúc con người trước các thế lực xã hội. Vận mệnh và phẩm chất nhân vật, đặc biệt là người phụ nữ trong đấu tranh xã hội đã trở thành nội dung cơ bản của tác phẩm. Vì thế tai biến được xây dựng là sự kiện chính của tác phẩm.”, truyện Nôm Quán Âm Thị Kính cũng không là ngoại lệ. Ban đầu, nàng cũng có một gia đình hạnh phúc, một mối lương duyên tốt đẹp:

Tiếng cầm tiếng sắt bẻ bai

Tiếng chiêng tiếng trống êm tai rập rình

Thị Kính được mô tả với những phẩm hạnh nết đủ mọi điều, trong mắt mọi người xứng là vợ hiền dâu thảo. Mối quan hệ gia đình đổ vỡ bắt nguồn từ tình tiết nửa đêm cầm dao định cắt râu mọc ngược cho chồng  của Thị Kính. Không phải ngẫu nhiên tác giả đã để cho trong hoàn cảnh đó, Thiện Sĩ hoàn toàn im tiếng, không có một lời bênh vực. Còn mẹ chồng đã đứng ra kết tội Thị Kính với những lời nặng nề. Chỉ vì những lời cáo buộc trong hoàn cảnh tình ngay lý gian, nàng đã bị khoác vào đủ lớp áo xấu xa hoàn toàn đối lập với con người thực của nàng:

Công cô rằng: bảo cho hay

Trộm hương cắp phấn cũng đầy chan chan

Mấy người tiệt quyết một an

Nay Tương mai Lý thế gian hiếm gì

Quả là trong tình huống “chữa dép vườn dưa” ấy, nàng khó mà có thể biện minh cho mình, để phải mang một án oan định giết chồng, bị trả về gia đình. Với người phụ nữ trong xã hội ngày xưa, không trọn đạo vợ chồng là một điều ô danh không chỉ cho bản thân mà còn gánh vào nỗi nhục của gia đình. Nhưng cũng bắt đầu từ tai biến ấy, người đọc mới thấy hết những phẩm chất tốt đẹp của Thị Kính được soi chiếu từ cả hai phía Đạo và Đời.

II.2. Xung đột trong gia đình được giải quyết theo chiều hướng “hòa bình”, nhưng đã tước đoạt đi hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ nết na đức hạnh, để lại mối thương tâm khó nguôi trong tâm hồn Thị Kính. Đoạn thơ diễn tả cuộc chia tay của hai vợ chồng có thể thấy rõ nỗi bất hạnh của Thị Kính khi có một người chồng yêu vợ nhưng lại quá hời hợt nên không hiểu nổi vợ mình. Thiện Sĩ  đáng trách không chỉ ở thái độ hồ đồ mà còn ở thái độ thiếu dứt khoát , đang tâm dứt mối duyên tình với người vợ đã nặng thề nguyền. Thị Kính đã phải lạy tạ dứt áo ra đi, nói những lời đầy nước mắt, nhưng anh ta hoàn toàn không phản ứng. Chỉ đến khi Thị Kính thật sự bước chân đi, Thiện Sĩ mới tiếc ngẩn ngơ, sùi sụt! Nhưng tiếc thay những suy nghĩ của Thiện Sĩ lại càng chứng tỏ sự tầm thường trước Thị Kính:

Phấn kia còn dấu bình đây

Hương kia còn dính áo này chưa phai

Xanh xanh khóm liễu Chương Đài

Tiếc thay đã để tay ai vin cành

Nếu chỉ soi chiếu theo quan điểm đạo Phật thì đó là cơ hội để nàng dứt nợ nhân duyên, thoát ra bể khổ nhân gian. Nhưng soi chiếu kỹ tâm hồn Thị Kính sau mối oan nghiệt, ta nhận ra thái độ thương cảm của người bình dân dành cho con người bất hạnh. Thị Kính mang tiếng oan nhơ nhuốc, trở về đầy tủi hổ. Thử đọc đoạn thơ miêu tả tâm trạng của Thị Kính khi bị trả về nhà Mãng ông, ta sẽ nhận thấy dấu ấn của người viết như muốn chia sẻ cùng nàng

Phòng riêng vò võ hôm mai

Trông ngày đằng đẵng lại dài hơn năm

Buồn trông giọt ngọc đầm đầm

Mùi ăn chẳng nhớ, giấc nằm chẳng ngon

Nực cười sự cỏn còn con

Bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn

Vẻ chi chút phận hồng nhan

Cánh hoa nở muộn thời tàn mà thôi

Rõ ràng trong đoạn thơ đã dành nhiều từ ngữ khắc hoạ nỗi đau buồn của một người bị phụ rẫy mà không biết thở than, chia sẻ với ai. Gia đình nàng cũng vì tai tiếng mà phải ngậm đắng nuốt cay nhìn con chôn vùi tuổi xuân. Bởi vậy giải pháp đưa ra là để nàng ra đi, lánh xa mọi phiền não thế gian. Nhân vật Thị Kính mắc phải tiếng oan, không quyết liệt phản ứng lại thực tại, gột rửa tiếng xấu nhơ nhuốc trong cuộc sống thực, mà chọn con đường xuất gia cầu đạo. Dường như đối với tác giả truyện Nôm này, đó cũng là một giải pháp hợp lý, đưa con người vượt qua bể khổ. Nhưng trước khi là người của chốn Phật môn, nàng đã tỏ rõ những nỗi niềm của một người con chí hiếu phải đứt ruột gạt lệ xa lìa cha mẹ già. Trong cảnh thân gái dặm trường, tấm tình của nàng hướng toàn bộ về gia đình:

Tưởng ân trời bể mông mênh

Dễ mà đền được ân tình ấy đâu

Tà tà bóng ngả cành dâu

Sớm khuya dưới gối ai hầu hạ thay

Vắng lời khuất mặt lúc này

Lòng người thiểu não biết ngày nào nguôi…

Ta có thể nhận ra một phương diện nữa trong đánh giá con người theo quan niệm nhân dân về chữ Hiếu! Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa tư tưởng đạo Phật với tư tưởng nhân dân. Xuất gia không có nghĩa là con người gạt bỏ hết những mối liên hệ với cuộc đời, trái lại người xuất gia trước hết phải là người vẹn tròn chữ hiếu. Chữ hiếu ở đây hoàn toàn không mang dấu ấn của Nho giáo mà xuất phát từ Phật giáo đại thừa: “Hiếu là cái pháp thứ nhất của đạo chí thiện” (dẫn theo Thiều Chửu). Thị Kính được xây dựng như một người con hiếu hạnh, ngay cả giai đoạn sau này khi ở chốn Thiền môn vẫn luôn canh cánh bên lòng tình thương yêu dành cho cha mẹ.

II.3 Tác giả truyện Nôm xây dựng xung đột trong quan hệ gia đình chỉ như một cái cớ để đưa nhân vật vào chốn cửa Thiền, bởi vậy không khai thác sâu thêm những xung đột đúng ra sẽ hết sức gay gắt trong mối quan hệ gia đình. Thế nhưng từ mối quan hệ với nhà chồng, với cha mẹ của Thị Kính, tác giả đã đưa ra hình ảnh người phụ nữ của gia đình với những chuẩn mực đạo đức theo khuôn mẫu của xã hội, không những thế còn tiến xa hơn khi lý giải những nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa truyện Nôm Quán Âm Thị Kính với văn học dân gian cũng như một số truyện Nôm đương thời, trong sự lý giải về số phận con người theo quan niệm nhân dân: hướng về người phụ nữ với những lời ca ngợi về phẩm hạnh tốt đẹp, đồng thời khai thác bi kịch của những nạn nhân đau khổ nhất của chế độ phong kiến, luôn bị dồn đẩy vào những tình huống đầy nước mắt, chịu những áp lực nặng nề của  thành kiến và luật lệ khắt khe, chung một kiếp hồng nhan bạc mệnh. Nhưng Quán Âm Thị Kính còn tạo một bước rẽ ngoặt khác cho nhân vật, để tập trung vào chủ đích của tác phẩm, thể hiện trong lời mở đầu:

Nhân sinh thành Phật dễ đâu

Tu hành cứu khổ rồi sau mới thành

III. Kính Tâm – điểm gặp gỡ Đạo và Đời:

III.1. Đoạn đời thứ hai của Thị Kính gắn với màu áo nâu sồng của một chú tiểu. Từ thân phận phụ nữ, phải cải dạng nam trang để chôn vùi quá khứ trong lời kinh câu kệ, tìm chút thanh thản, không vướng bụi trần. Thế nhưng dường như chướng căn tiền kiếp đã làm nên mối oan tình thứ hai từ vụ án chửa hoang của Thị Mầu. Kính Tâm không chỉ đóng vai trò của một nạn nhân mà còn đóng vai trò của một đấng cứu nạn. Đưa ra tình huống truyện éo le này, trước hết tác giả Quán Âm Thị Kính nhằm đề cao chữ Nhẫn của bậc chân tu. Nhưng phần đời Thị Kính trong lốt tiểu Kính Tâm vẫn là điển hình cho những oan khổ của con người đã được lý giải một cách xúc động. Từ đó cũng hoàn thiện chân dung tâm hồn của Thị Kính.

Một điều cần phải nói rõ : động cơ nào đã làm cho Thị Kính bén mùi Thiền? Có người cho rằng hành động này của Thị Kính cũng là phản ánh thái độ tiêu cực lánh đời vào chùa của nhiều Phật tử. Nhưng cũng có thể thấy một sự thực đàng sau số phận Thị Kính: đó cũng là giải pháp cho nhiều người phụ nữ bất hạnh, mong tìm thấy một chốn nương tựa bình an. Nhưng ngay chính nơi tưởng như lánh xa đời tục, những tham, sân, si vẫn cám dỗ một cách dai dẳng. Lòng trần đầy vọng niệm chưa hẳn đã tắt, bởi những cám dỗ của cuộc sống, những mối dây liên hệ với cuộc đời vẫn không thể cắt bỏ. Ngay những ngày sống ở cửa Phật, dường như Thị Kính vẫn là con người của trần thế, của gia đình. Những khoảnh khắc nhớ nhà của Thị Kính cũng được diễn giải rất tự nhiên, cho thấy mối dây hồng trần vẫn khiến nàng không hẳn để lòng mình nguôi ngoai theo nhịp kinh kệ:

–         Đòi cơn tưởng nỗi hương quê

Người đi ngàn dặm lòng về năm canh

–         Lấy chi làm chuyện giải phiền

Quyển kinh trăm lá ngọn đèn một hoa

Bạch vân khuất nẻo xa xa

Song thân ta đấy là nhà phải không?

Bể non chưa chút đền công

Bấy lâu nay những nặng lòng vì con

Tuy rằng những đoạn diễn tả tâm trạng này không phức tạp và đẫm nước mắt như Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, nhưng đọc lên vẫn khiến người nghe phải thương cảm cho nỗi niềm của một người con chí hiếu. Nhìn từ tâm trạng của tiểu Kính Tâm, ta có thể thấu đáo hơn quan niệm về người xuất gia của dân gian đã được gửi gắm trong tác phẩm.

III.2. Thị Mầu là một hình tượng khá độc đáo trong truyện Nôm Quán Âm Thị Kính với những dục vọng không hề che đậy. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam phái Thiền tông, từng có chuyện Điểm Bích lên chùa thử lòng Huyền Quang tam tổ. Và câu chuyện này tiếp tục mô tip ấy. Trong thời điểm truyện Nôm ra đời, cũng khá nhiều câu ca dao, thơ trung đại chế giễu loại người tu nhưng chưa dứt lòng phàm, đã phạm vào sắc giới, chẳng hạn như bài ca dao hóm hỉnh:

Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

Sư về sư ốm tương tư

Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu!

Thị Màu cũng là một dạng thôn nữ yếm thắm rất táo bạo trong những khát vọng trần thế, bởi vậy khi gặp tiểu Kính Tâm mà đem lòng yêu thương cũng là điều tất yếu. Đoạn kể chuyện Thị Mầu ve vãn tiểu Kính Tâm sau này đã được nghệ thuật sân khấu chèo dựng thành lớp Thị Mầu lên chùa nổi tiếng. Trong truyện Nôm, nhân vật cũng được miêu tả với tất cả sức sống mãnh liệt. Lòng si mê của Thị Mầu với Kính Tâm cũng là tình cảm hết sức tự nhiên nam nữ, nhưng bất bình thường là ghẹo đúng chú tiểu Kính Tâm, để bắt đầu một nghiệp chướng:

Liếc trông thấy tiểu dịu dàng

Sóng thu xui khiến cho nàng khát khao

Người đâu có dáng thanh tao

Bóng hoa dưới nước vẻ sao trên trời

Tình cảm ấy có phần táo bạo và liều lĩnh, trái ngược với những chuẩn mực xã hội về người phụ nữ. Thị Mầu là hiện thân của khát vọng bản năng, còn Kính Tâm tất nhiên sẽ không thể nào đáp ứng thứ tình cảm mãnh liệt ấy. Dường như sự phê phán dành cho nhân vật Thị Mầu không lớn, bởi lẽ sẽ trái với tinh thần yêu thương mọi chúng sinh của đạo Phật. Ve vãn Kính Tâm không được, Thị Mầu tằng tịu với đứa thương đầu để rồi đem đến oan khuất không thể giãi bày cho tiểu Kính Tâm. Hoá ra khi không được thoả nguyện yêu đương, Thị Mầu đã bất chấp cả đạo lý làm tổn hại thanh danh của “người trong mộng” , với một hy vọng rất ngây thơ:

Phải khi lên chốn thuyền trai

Kính Tâm tiểu ấy gặp ngoài sau bia

Quá yêu chót đã nguyện thề

Nhị hoa phó mặc bướm kia ra vào

Dù nên cầu bắc gửi trao

Nhờ làng ơn ấy đời nào dám quên

Có thể nói rằng, Quán Âm Thị Kính một mặt đề cao giáo lý đạo Phật, răn dạy con người những giới cần phải tránh để nâng cao Phật tính, nhưng mặt khác cũng không áp đặt con người vào những giới luật khắt khe, khi con người còn chìm đắm trong bến mê. Thị Mầu là kẻ lạc vào bến mê của dục vọng, và chính thị cũng là nạn nhân của chính dục vọng. Quan toà xử án ở đây không phải là bộ máy công quyền mà chỉ đơn giản là làng, đơn vị cấu thành nên đặc trưng xã hội Việt Nam thời phong kiến. Phép vua thua lệ làng, nhà chùa dù là nơi thanh tịnh, cũng không thoát khỏi ràng buộc với làng. Bởi thế khi bị đổ oan, Kính Tâm phải chịu đòn, phải nộp vạ. Sức mạnh của làng xã cũng là một trong những áp lực lớn, con người bị chi phối bởi những qui định khắt khe nên bản thân Thị Màu cũng không thể vượt qua luật tục, nhưng trớ trêu thay, tình cảm của Thị Màu đã bị trêu cợt bởi người cô yêu thương lại là nữ giả nam, hơn thế lại là người xuất gia. Có lẽ tác giả truyện Nôm này cũng đã nhận ra và thông cảm với cô Thị Màu táo bạo và đáng thương, dù đứng về mặt đạo đức xã hội thì vẫn lên án, nhưng đứng về phía nhân tình thì lại có những lời thông cảm:

Phép người đã cứ cung xưng

Yêu ai chỉ nấy may chưng được nhờ.

Rõ ràng trong lời cung xưng gian dối của Thị Mầu còn ẩn một chút hy vọng sẽ vớt vát tình cảm từ phía Kính Tâm cũng như thoát tội cho mình. Đây quả thật là một tình huống trớ trêu khiến cho Kính Tâm khi bị vu vạ thông dâm với Thị Mầu cũng khó có thể biện minh cho mình. Cũng vì vậy mà bi kịch lại chồng lên đời nàng một lần nữa. Kính Tâm đã chấp nhận chịu đòn của làng, chịu ra ở ngoài tam quan của chùa cũng xuất phát từ quan niệm về chữ Nhẫn của đạo Phật:

Sá thù chi đứa dâm ô

Nước tuỳ duyên rửa cho đi kẻo mà

Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hoà

Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu

III.3. Trong việc Kính Tâm chấp nhận nuôi đứa con của Thị Mầu, chúng ta thấy rõ đức hiếu sinh của nhà Phật, nhưng cũng cho thấy sự đáo để của cô Thị Mầu lẳng lơ, cũng như lòng nhân từ của Thị Kính. Đó là cách ứng xử đầy thông cảm của người phụ nữ dành cho người phụ nữ khác. Và trong cảnh tò vò mà nuôi con nhện, chúng ta lại chứng kiến một khía cạnh sâu thẳm nhất trong tâm hồn Thị Kính: thiên chức người mẹ. Rõ ràng từ việc nuôi con của Thị Kính, ta mới nhận ra sự hoà điệu của tư tưởng Phật giáo và văn hóa thờ Mẫu của người Việt cổ xưa. Cũng từ khoảnh khắc này, người đọc mới nhận diện rõ một bóng dáng Phật Bà Quán Âm, với lòng từ bi vô lượng, hiện hữu bằng xương bằng thịt dưới cõi trần trong lốt tiểu Kính Tâm, mở lòng cứu vớt chăm bẵm cho một sinh linh vô tội, đồng thời cũng cứu rỗi cho người mẹ – Thị Màu – người phải rứt ruột đem con bỏ chùa. Dù cho Thị Mầu là người đàn bà lẳng lơ nhưng cũng có tấm lòng người mẹ, bởi thế mà nhân vật này cũng có lòng xót con khi không được nuôi con để tránh tiếng xấu cho gia đình phú ông mà phải gửi vào cửa Phật:

Trên tay nâng giọt máu đào

Hầu đi lại đứng, toan vào lại ra

Ngỡ chơi đâu biết thế mà

Cắn răng đem dứt ruột già cho ai

Một lần nữa, Thị Mầu lại tìm thấy chiếc phao cứu sinh là tiểu Kính Tâm, nên mặt dạn mày dày đem con lên “trả”. Hành động của Thị Mầu đã là một cách cắt nghĩa cho một thứ tình yêu oái oăm, càng mang ơn càng gieo oán. Nhưng tiểu Kính Tâm đã không nề hà một lần nữa chịu tiếng oan, mở rộng lòng hiếu sinh mà đón nhận đứa trẻ. Tác giả đã đề cao lòng từ tâm xuất phát từ đức hiếu sinh của đạo Phật:

Dầu xây chín đợt phù đồ

Sao  bằng làm phúc cứu cho một người

Tinh thần nhân ái Phật giáo đã làm rạng danh bậc chân tu, nhưng cũng qua biến cố này, Quán Âm Thị Kính còn khai thác làm nổi bật  tấm lòng từ ái của một người mẹ thật sự ở Thị Kính:

Mẹ vò thì sữa khát khao

Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền

Nâng niu xiết đỗi truân chuyên

Nhai cơm mớm sữa để nên con người

Hành động này không chỉ lý giải đơn thuần bằng nguyên do làm phúc mà thể hiện một tình thương thật sự, giúp Thị Kính vượt qua những lời dị nghị, đàm tiếu của thế gian. Không những thế, nhân vật còn mang những cảm xúc thật sự người, của một lòng trần chưa cạn:

Ra công nuôi bộ thực là

Những buồn, có trẻ hoá ra đỡ buồn

Khi trống giục, lúc chuông dồn

Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày

Đoạn thơ thật thấm thía tình người cũng là cách để đem những giáo lý đạo Phật đến gần hơn với đời thường. Tâm Phật – tâm Đời hoà quyện, Quán Thế Âm Bồ Tát đã hoà cùng hình ảnh Mẫu của người Việt để hiện rõ lên dần một dáng dấp Phật Bà Quán Âm của người Việt.

IV. Quán Âm Thị Kính – quả phúc vẹn tròn:

IV.1. Những oan khổ của một đời hồng nhan cuối cùng chỉ được cởi ra khi tiểu Kính Tâm được siêu thăng về miền Tịnh độ. Đạo Phật chọn con đường giải thoát ở kiếp sau cho những chúng sinh lầm lạc ở bến mê. Thị Kính đã cởi bỏ được oan tình khi lộ hình hài nhi nữ. Thế nhưng nỗi đau mắc tiếng hại chồng vẫn mang theo canh cánh bên lòng. Bởi thế, có thể nói sự ra đi của Thị Kính thuần tuý là sự mất mát thông thường của một người chịu quá nhiều khổ nạn chốn nhân gian. Đó không phải là sự ra đi thanh thản của kẻ đã rũ sạch muộn phiền chốn nhân gian mà là hiện hữu của tột cùng thương tâm. Dường như hệ lụy nhân gian vẫn còn vướng vất, dẫu cho nỗi đau nén đến tận cùng, đạt đến đỉnh cao chữ Nhẫn mà vẫn khó nguôi ngoai. Nỗi lòng Thị Kính do đó không thể diễn đạt bằng thơ nữa mà phải hiện lên qua bức di thư đẫm nước mắt với bao nỗi niềm thân phận: “…Thủa làm vợ để chồng ngờ thất tiết; lúc làm trai cho gái đổ oan tình. Nên nghĩ ơn chín chữ cù lao, xa xôi chốc đã sáu thu, cách trở bận lòng khi đán mộ. Nghĩ đến nỗi đôi nơi ly biệt, nuôi nấng gọi là một chút, viếng thăm họp mặt lúc thần hôn. Muôn phần bội bạc đã cam rồi, trăm lạy nghiêm từ xin ở lại”. Ta có thể hình dung lá thư ấy được viết ra bởi một cõi lòng tan nát, nhưng vẫn giữ vẹn hiếu vẹn tình, kết tinh bao nhiêu máu lệ. Toàn bộ lá thư gói ghém trọn vẹn những bi kịch số phận của một kiếp hồng nhan mệnh bạc, khiến bao người phải ngậm ngùi thương cảm.

IV.2. Nhưng những bi kịch không chỉ dừng lại ở một số phận Thị Kính, tác phẩm còn khắc họa kết thúc số phận của Thị Màu để bổ sung hoàn chỉnh ý nghĩa bi kịch cho phận má đào. Thị Mầu, người đóng vai trò thủ phạm gây nên mối oan tình cho Thị Kính không phải là kẻ hoàn toàn lẳng lơ trắc nết, mất hết nhân tính. Nàng ta có lỗi nhưng cũng là người biết hổ thẹn với chính mình:

Thị Mầu cũng bạn má hồng

Để tang mà khóc bằng chồng dở dang

Phần thì hổ với lân bang

Phần thì rầu với song đường nói đay

Còn người còn cái thẹn này

Phải liều như thể vợ thày Trang sinh

Cái chết của Thị Mầu là để đền lại cho ác nghiệp mà nàng ta gây ra, nên phải chịu trầm luân kiếp sau theo thuyết nhà Phật. Nhưng nếu nhìn từ góc độ hiện thực, cái chết ấy còn do người đời thiếu sự bao dung độ lượng, thiếu tấm lòng một người như Thị Kính. Quan hệ làng xã, quan hệ gia đình và sự mặc cảm bản thân là những ràng buộc khiến Thị Mầu không còn con đường nào khác mà phải tự vẫn. Cũng là một bi kịch của phận má hồng.

IV.3. Không dừng lại ở sự quả báo nhãn tiền, tác giả Quán Âm Thị Kính còn lý giải cụ thể cho từng số phận các nhân  vật mà Thị Kính đã nhắc đến trong lá thư trần tình lúc giã từ dương thế. Nỗi đau của gia đình Mãng ông là khó có thể bù đắp, bởi lẽ cuộc sống của đôi vợ chồng già là một viễn cảnh u ám, thê lương:

Giữa đường thoát gánh khỏi tay

Xuân già huyên cỗi sau này làm sao?

Nỗi đau ấy hoàn toàn không có thể được bù đắp bởi những tín niệm đạo Phật, bổ sung hoàn chỉnh cho những thương đau chốn nhân gian. Bởi lẽ cha mẹ của Thị Kính đã phải chịu bao nhiêu đau đớn xuất phát từ mối oan của con gái: chịu nhục nhận con về, mang tiếng xấu với làng xã; con lại bỏ đi biệt tăm tích, náu mình cửa Phật; tuổi già sức yếu chỉ biết nương tựa vào nhau; đến lúc nhận tin con thì lại là sinh ly tử biệt. Nỗi đau của Thị Kính còn lồng vào những bất hạnh của ông bà họ Mãng.

Nếu như gia đình Mãng ông chịu nỗi đau lớn khiến người đọc ngậm ngùi thì trái lại tiếng khóc của Thiện Sĩ khiến mọi người khó chịu. Bởi lẽ nhân vật này không chỉ hồ đồ dẫn đến việc vợ mắc oan, mà anh ta còn là người nhu nhược ích kỷ khi đã không hề có một chính kiến nào để bảo vệ hạnh phúc của mình, phó mặc cho mẹ phán xét. Sáu năm trời mất tăm tích vợ, anh ta hoàn toàn không đoái hoài đến gia đình phía vợ. Thế nhưng khi biết mối oan tình, hối hận thì tiếng khóc kia không đủ khiến người đọc cảm thông, bởi chính anh ta là người đã quên lời thề nguyền khi se tơ kết tóc:

Tơ duyên bỗng sẻ đôi đường

Vì anh lỗi đạo cho nàng ngậm oan

Châu rơi có lẽ phục hoan

Cũng mong liễu lại tay Hàn mai ngay

Nửa chăn để bụi đã đầy

Uyên ương ước lại xum vầy hợp duyên…

Dường như đàng sau sự mô tả về Thiện Sĩ, tác giả cũng đã vẽ ra chân dung của một kẻ sống nhạt nhẽo tầm thường, không hề có cốt cách của Kim Trọng, mà còn kém hẳn cả Thúc Sinh trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du. Thiện Sĩ là một kẻ sống không ra sống, là một loại người như cái bóng tồn tại giữa cuộc đời và không thể đem lại hạnh phúc cho một ai. Bởi thế, ngụ ý sâu xa cho sự chuyển kiếp của Thiện Sĩ thành con vẹt đã bao hàm đầy đủ thái độ của nhân dân với hạng người này.

IV.4 Tác phẩm kết thúc bằng một có hậu không hoàn chỉnh nếu như xét từ góc độ nhân sinh. Thị Kính thành chính quả, thành Quán Âm Thị Kính – đấng cứu khổ cứu nạn có lẽ là một sự an ủi cho một số kiếp trầm luân nơi trần thế. Khép lại một tích Phật nhưng câu chuyện đã tạo dựng một hình tượng Phật Quán Âm độc đáo:

Truyền cho nào tiểu Kính Tâm

Phi thăng làm Phật Quán Âm tức thì

Lại thương đến đứa tiểu nhi

Lên tay cho đứng liền khi bấy giờ

Kìa như Thiện Sĩ lờ đờ

Cho làm chim vẹt đứng nhờ một bên

Độ cho hai khóm xuân huyên

Ra tay cầm quyết bước lên trên toà

Với việc để các nhân vật siêu thăng hưởng phúc, tác phẩm cũng đã hoàn thành nhiệm vụ giáo hoá chúng sinh về chữ thiện, về tinh thần giác ngộ, về một khả năng giải thoát nhiệm màu của Phật pháp vô biên. Nhưng có thể nói dân gian đã tiếp thu câu chuyện không hoàn toàn theo khuynh hướng thuyết lý đạo Phật mà đề cao giá trị nhân sinh của Quán Âm Thị Kính. Vở chèo cùng tên lấy từ cốt truyện này đã đem đến cho quần chúng bao đời một Thị Kính với cuộc đời đau khổ trầm luân làm rơi nước mắt  người xem, lớp Thị Mầu lên chùa mang đến một hình tượng tràn sinh lực với khát vọng yêu đương…đã thành lớp diễn kinh điển. Sự kết hợp hài hoà hai luồng tư tưởng: đạo Phật và quan niệm nhân dân đã đem đến cách lý giải số phận con người riêng biệt của tác phẩm so với các truyện Nôm cùng thời. Từ đó, hình tượng Phật Bà Quán Âm càng trở nên quen thuộc gần gũi với mọi người, mang tư tưởng hướng thiện, nhân bản cao cả./.

Hà Nội, tháng 1 năm 2008

TRẦN HÀ NAM

Truyền kỳ mạn lục – Nguyễn Tự


Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề văn xuôi tự sự trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi có một số thu hoạch nhỏ xoay quanh một tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn: tác phẩm Truyền kỳ mạn lục sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XVI của tác giả Nguyễn Tự  – 阮 嶼 (căn cứ vào những cứ liệu xác đáng về tên tác giả, chúng tôi ủng hộ ý kiến của PGS.TS Nguyễn Đăng Na và các nhà nghiên cứu đồng quan điểm là phải trả lại đúng tên gọi cho tác giả, không theo thói quen lâu nay gọi tên ông là Nguyễn Dữ!). Truyền kỳ mạn lục được mệnh danh là áng “thiên cổ kỳ bút” trong truyện ngắn trung đại Việt Nam, và đây cũng là tác phẩm văn xuôi chữ Hán thu hút được sự  quan tâm của giới phê bình nghiên cứu văn học trung đại. Việc đánh giá về giá trị của tác phẩm này cũng có nhiều xu hướng khác nhau, nhiều phương pháp tiếp cận tổng thể cũng như phân tích đánh giá sâu vào một tác phẩm. Tìm hiểu một loạt các tài liệu, chúng tôi đặc biệt tâm đắc với ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Na về Truyền kỳ mạn lục, khẳng định giá trị độc đáo riêng biệt của tác phẩm : “Nếu Lê Thánh Tông hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh thì Nguyễn Tự đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ. Nhờ đó mà Nguyễn Tự đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại. Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Tự đi tìm giải pháp xã hội: Con người phải sống ra sao để vươn tới hạnh phúc, để nắm bắt được hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở đâu: trên trần gian này hay miền tiên giới, cõi thiên tào hay nơi thủy cung…? Đối với người đàn ông, hạnh phúc là gì và đối với người phụ nữ, như thế nào là hạnh phúc? Nguyễn Tự đưa ra nhiều giả thiết bằng những cuộc thử nghiệm, nhưng tất cả đều bế tắc. Đó là thông điệp cuối cùng ông để lại cho người đọc…” (Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ so sánh văn học – Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, tr.216). Ý kiến ngắn gọn nhưng khá đầy đủ này đã gợi hứng và mang tính chất định hướng đúng đắn với những người đang dạy phổ thông khi  tiếp xúc với tác phẩm này. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ xin nêu những suy nghĩ của bản thân một hướng tiếp cận để giảng dạy tốt hơn phần Truyền kỳ mạn lục trong trường phổ thông.

Với vai trò là “người mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại”, Nguyễn Tự cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc. Điều bức xúc nhất hiện nay là mặc dù tên gọi của ông đã được minh chứng một cách khoa học từ hàng mấy chục năm nay nhưng thế hệ học sinh thời phân ban, cải cách vẫn phải viết tên ông là Nguyễn Dữ. Đó là một điểm bất hợp lý và thiếu khoa học. Mặc dù, ở phần chú thich sách giáo khoa đã có chú thích nhưng xem ra không mấy giáo viên dũng cảm dám thừa nhận tên gọi này, học sinh làm bài vẫn phải viết Nguyễn Dữ, do sợ bị trừ điểm vì viết sai tên tác giả (!). Khoa học đòi hỏi một sự công bằng, dũng cảm. Do vậy, cần phải có những người có thẩm quyền để điều chỉnh lại cách gọi tên tác giả  một cách kịp thời trong những năm học tới.

Vấn đề thứ hai là trong quá trình giảng dạy về Nguyễn Tự ở trường phổ thông là cách hiểu yếu tố truyền kỳ của tác phẩm. Theo sách Ngữ văn 9, tập 1 và cả sách hướng dẫn giáo viên lớp 9, tên gọi của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục được dịch có nghĩa là “Ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ được lưu truyền”. Bằng những luận cứ khoa học xác đáng, PGS.TS Nguyễn Đăng Na cũng đã chỉ ra đặc điểm của thể loại văn xuôi tự sự là tên gọi của thể loại thường đặt cuối tên của tác phẩm. Bởi vậy, truyền kỳ trong trường hợp này không nên hiểu là thể loại như cách giải thích hiện hành, từ đó dẫn đến cách tiếp cận tác phẩm sẽ sai lệch theo hướng nhấn mạnh vào yếu tố lạ kì đặc biệt. Như tài liệu của tác giả Nguyễn Đăng Na đã chỉ rõ: “…đứng trong cụm từ “truyền kỳ mạn lục” thì, truyền kỳ làm định ngữ, chỉ tính chất của thể mạn lục – một thể tự sự viết tự do, tùy hứng theo ý đồ sáng tác của tác giả, không bị câu thúc bởi bất kỳ một lý do gì cả” (sđd, tr.212). Điều này có ý nghĩa đối với giáo viên phổ thông, những người chuyển tải thông điệp của Nguyễn Tự đến các thế hệ học sinh, tránh những ngộ nhận khi cho rằng Nguyễn Tự chịu ảnh hưởng của tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu ở Trung Hoa, vừa có ý nghĩa định hướng đúng đắn hơn cho việc tìm hiểu vào nội dung bức thông điệp của Nguyễn Tự, “lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh”, hướng về các giá trị nhân bản.

Đi cụ thể vào nội dung tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Tự, chúng tôi nhận thấy những nét thật thú vị khi các truyện của ông đã hết sức táo bạo khi đề cập đến những đề tài cấm kỵ của văn chương phong kiến. Trong một xu hướng văn chương hiện đại và hậu hiện đại hiện nay, người ta kêu gọi giải phóng cá nhân, tìm đến sex như là một sự giải toả những ẩn ức, dục tính được mổ xẻ một cách có phần thái quá thì chúng ta có thể tìm đến tác phẩm của Nguyễn Tự để thấy ông cha ta đề cập đến yếu tố này một cách độc đáo và nhân văn như thế nào. Nguyễn Tự đã không ngần ngại lý giải tình yêu muôn mặt đời thường gắn liền với yếu tố nhục cảm. Tất nhiên đây là một vấn đề tế nhị và dường như vẫn còn là đề tài “cấm kỵ” trong nhà trường chúng ta hiện nay, nhưng có nên chăng giáo viên cũng cần tự trang bị cho mình những kiến thức nền tảng này để có thể giải đáp những câu hỏi từ phía học sinh mà không cảm thấy lúng túng khi các em hỏi về những vấn đề “nhạy cảm” trong Truyền kỳ mạn lục. Hiện tại, ở chương trình lớp 9 chọn lọc đưa vào tác phẩm quen thuộc Chuyện người con gái Nam Xương, chương trình lớp 10 chuẩn và phân ban đều chọn tác phẩm Tản Viên phán sự lục (Chức phán sự đền Tản Viên). Đây là những tác phẩm hay trong Truyền kỳ mạn lục nhưng nhìn chung vẫn chưa thoả mãn những ai muốn hiểu một cách tương đối khái quát về tư tưởng của Nguyễn Tự trong tác phẩm. Đặt tác phẩm của Nguyễn Tự vào xu hướng thế tục hoá để nhận thấy vai trò của ông trong việc hoàn chỉnh thể loại truyện ngắn trung đại Việt Nam. Nguyễn Tự quan tâm đặc biệt đến số phận của người phụ nữ với những bất hạnh, bi kịch điển hình cho những đau khổ của con người thời trung đại.Những bất hạnh, bi kịch của con người được đề cập trong tác phẩm không chỉ gói gọn trong câu chuyện của Vũ Nương với Trương Sinh (Chuyện người con gái Nam Xương) mà còn là những bi kịch của tình yêu bị ngăn cấm, của duyên phận hẩm hiu, của thói đời đen bạc…Có đề cập một cách khái quát thì mới có thể phản ánh tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Tự một cách đúng đắn. Do vậy, nên chăng có một sự khái quát về xu hướng thế tục hoá trong văn xuôi tự sự trung đại và vai trò của Nguyễn Tự trong phạm vi số tiết cho phép của chương trình văn học phổ thông. Những điểm nổi bật nhất có thể tiếp thu để làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị của Truyền kỳ mạn lục có thể cô đúc từ những phân tích các truyện cụ thể của tác phẩm trong giáo trình cao đẳng, đại học, bảo đảm được sự liên thông giữa các cấp học. Đánh giá một cách khái quát về nội dung hiện thực được phản chiếu trong các tác phẩm, mối quan hệ giữa yếu tố hiện thực và yếu tố truyền kỳ trong tác phẩm, để tìm ra cốt lõi của những câu chuyện.

Ngoài những truyện đề cao phẩm hạnh của người phụ nữ trong tác phẩm như Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện nàng Thúy Tiêu, Chuyện nàng Lệ Nương cùng một cảm hứng như Chuyện người con gái Nam Xương,  người viết xin trình bày những cảm nhận xung quanh một số truyện đặc sắc của Truyền kỳ mạn lục xoay quanh số phận của người phụ nữ, trong đề tài tình yêu tự do, nhằm góp phần minh hoạ một phương diện tư tưởng của Nguyễn Tự trong Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Tự đã nhận ra ở những người phụ nữ sống đạo đức tử tế những nỗi bất hạnh tột cùng, khi phẩm giá của họ không được đền đáp mà lại bị vùi dập khinh khi, hầu như ai cũng phải tìm đến một cái chết oan uổng, một thực tế phũ phàng. Bởi vậy, ông đã có một góc nhìn khác vào những người phụ nữ vượt lên sự cương toả của lễ giáo, tìm đến tình yêu tự do. Ông đã không ngần ngại miêu tả tình yêu với tất cả sự mê đắm của những nho sinh với ma nữ, lật tung những giá trị đạo đức khi để cho các nhân vật sống với con người bản năng của mình. Tình yêu trong các câu chuyện được dựng nên với một ranh giới ảo và thật hết sức mong manh, mộng mà thực, thực mà mộng, tạo nên một sức hấp dẫn riêng. Cũng như bao mối tình nam nữ, các nhân vật cũng trải qua đầy đủ mọi cảm giác khi bước chân vào thế giới luyến ái. Truyện Cây gạo là một truyện hết sức táo bạo kể về mối tình của Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ, đắm chìm trong bể dục, đời sống hoan lạc ân ái. Một câu chuyện có thể nói đã đưa ra một triết lý hiện sinh như sự phản kháng lại mọi qui tắc lễ giáo đương thời: Nhị Khanh hiện ra là một trang “giai nhân tuyệt sắc”, mang một “mối tình u uất trong lòng”. Nàng nói với Trung Ngộ những lời hết sức táo bạo trong lần gặp gỡ đầu tiên: “Người ta sinh ở đời, cốt được thỏa chí, chứ văn chương thời có làm gì, chẳng qua rồi cũng nắm đất vàng là hết chuyện. Đời trước những người hay chữ như Ban Cơ, Sái Nữ (7) nay còn gì nữa đâu. Sao bằng ngay trước mắt, tìm thú vui say, để khỏi phụ mất một thời xuân tươi tốt. ”. Tất nhiên, mối tình Người – Ma mang màu sắc vô luân ngược đạo lý xã hội này phải bị ngăn cản quyết liệt. Thế nhưng khát vọng tự do yêu đương bị cấm cản đã tạo thành phản ứng quyết liệt của đôi tình nhân ma này. Mọi sự phản ứng ấy bắt đầu đến khi Trung Ngộ hoá thành ma, họ đã thành đôi yêu quái trong mắt mọi người, một đôi ma “dắt tay nhau đi đôi, khi khóc, khi hát”. Bi kịch trong thời đại ấy chính là ở chỗ không cho con người được tự do yêu đương, nên cả khi đôi tình nhân này đã hoá ma thì họ cũng bị truy cùng diệt tận, “đào mả phá quan tài”, nhập vào cây gạo thì bị đạo nhân tiêu diệt, huy động cả sáu bảy trăm đầu trâu áp giải đi. Tội lỗi của họ chỉ là yêu nhau, bất chấp mọi sự cấm cản. Có thể thấy trong lời bình, tác giả không một lời phê phán cá nhân Nhị Khanh, còn Trình Trung Ngộ chỉ có một lời bình là hạng “thất phu đa dục”,  “không đáng trách”.

Chuyện tình trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây còn táo bạo hơn khi đưa ra mối tình tay ba, miêu tả say sưa cảnh tự do luyến ái giữa Hà Nhân với Liễu Nhu, Đào Hồng. Tình cảm ấy không chỉ là sự say mê giữa giai nhân tài tử mà còn là một thách thức với xã hội khi tình dục được thăng hoa trong cảm xúc văn chương, thành những bài thơ miêu tả cảnh ân ái táo bạo. Phải chăng từ cảm hứng này mà sau này Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du mới có sự kế thừa. Chính Nguyễn Tự là “cha đẻ của dòng thơ sexy Việt Nam” (Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, t.2, NXBĐHSP, 2007, tr.51). Qua đó, cũng bày tỏ được khát vọng trần thế vượt ra những ngăn cấm khắc nghiệt của xã hội đương thời, dẫu cho những con đường tìm kiếm hạnh phúc mà Nguyễn Tự vạch ra cuối cùng đều bế tắc, thế nhưng cũng phần nào phản ánh tâm lý con người trong thời đại muốn phá tung những rào cản cấm đoán vô lý.

Không chỉ miêu tả những mối tình của người phàm, Nguyễn Tự còn chỉ ra cho chúng ta những tình duyên hết sức éo le. Một nhà sư hiệu Vô Kỷ mà cũng mắc lưới tình với nàng Hàn Than, vì “Cõi dục đã gần, máy thiền dễ chạm,(…). Hai người đã yêu nhau, mê đắm say sưa, chẳng khác nào con bướm gặp xuân, trận mưa cửu hạn, chẳng còn để ý gì đến kinh kệ nữa” (Nghiệp oan của Đào Thị), tiên nữ Giáng Hương cũng lụy tình với kẻ phàm trần Từ Thức, cũng vì “bảy tình chưa sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ở phủ tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân ở đền quỳnh mà lòng theo cõi dục” (Từ Thức lấy vợ tiên). Những câu chuyện tình thắm thiết ấy có khi phải trả giá như một nghiệp chướng khó thoát, bản thân Nguyễn Tự cũng phải đứng từ phía luân lý xã hội mà để nhân vật của mình phải gánh chịu hậu quả từ lòng dục vượt những giới hạn đạo lý: Hàn Than và Vô Kỷ không thể có niềm vui hạnh phúc vì đứa con chính là oan nghiệt, Giáng Hương và Từ Thức phải vĩnh biệt nhau vì sự khác biệt tiên phàm, cõi tiên không dung nạp tấm lòng trần thế.

Trong 11 truyện viết về những thân phận phụ nữ, tác giả cũng thể hiện khá rõ lập trường đạo đức Khổng Mạnh của mình. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng gửi vào trong từng câu chuyện tấm lòng thương cảm của con người với con người. Những chuyện phong tình bị lên án bởi những giáo điều, những quan niệm xã hội, bởi thế những oan khổ trong kiếp đàn bà vẫn không ngừng đeo đuổi họ cho đến chết. Mượn yếu tố truyền kỳ, nhà văn muốn an ủi cho những số phận bất hạnh. Nếu như hiện thực là ly biệt, là mất mát, đổ vỡ, là sự oan ức thiệt thòi, là sự ruồng rẫy rẻ khinh thì yếu tố truyền kỳ đem lại khoảnh khắc châu về Hợp Phố, sum họp đoàn viên, giải oan, bất tử hoá nhân vật… Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bản thân nhà văn cũng không thể tìm lời giải đáp cho nhân vật rằng đâu là hạnh phúc thật sự của con người. Những cảm nhận về một thời đại loạn ly hiện hình trong từng số phận phụ nữ, đàng sau bức màn huyền ảo là nỗi đau nhân sinh phản chiếu niềm thương cảm của nhà văn.

Hiểu Nguyễn Tự và tinh thần cơ bản của Truyền kỳ mạn lục, chúng ta có thể tìm thấy một hướng khai thác vào vẻ đẹp của tinh thần nhân bản thế kỷ XVI, một tiền đề cho sự nở rộ của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong sáng tác ở các giai đoạn sau. Sự tổng hoà các xu hướng dân gian, xu hướng lịch sử và xu hướng thế tục đã khiến cho những câu chuyện của Nguyễn Tự thật sự có một diện mạo riêng, đạt đến chuẩn mực của truyện ngắn trung đại Việt Nam. Những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo ẩn sau lớp vỏ truyền kỳ cần được tiếp nhận một cách đúng đắn để hiểu rõ thời đại của Nguyễn Tự, khám phá những uẩn khúc những chiều sâu tâm hồn con người thời trung đại. Ngoài ra, cũng từ cái mốc Truyền kỳ mạn lục, chúng ta cũng có thể thấy được những sáng tạo mang đậm dấu ấn tác giả, sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần văn chương thời đại trước, mối quan hệ với văn chương khu vực và ảnh hưởng của Nguyễn Tự đối với văn học giai đoạn sau này. Từ đó, trong việc giảng dạy, hướng dẫn đọc thêm cho học sinh, chúng ta sẽ chọn lọc được những truyện có tính giáo dục cao, có giá trị thẩm mỹ, giúp các em hiểu sâu hơn vẻ đẹp của tác phẩm nói riêng và của văn xuôi trung đại nói chung./.

Hà Nội, tháng 1 năm 2008

TRẦN HÀ NAM

Trần Huiền Ân


Tôi đọc những bài thơ của Trần Huiền Ân trong tập “Thi ca miền Trung Việt Nam” do tác giả Lương Trọng Minh biên soạn. Ấn tượng về một giọng thơ đằm thắm, có chút gì nhoi nhói khi giữa lòng miền Nam “thời Mỹ ngụy” như chúng ta thường gọi, lại có những vần thơ nói về kỷ niệm kháng Pháp đậm đà đến thế. Thú thật, tôi hiểu về giai đoạn kháng Pháp, mảnh đất xứ Nẫu khổ mà vui như thế nào cũng từ bài thơ này, để rồi hỏi cha tôi, người gắn bó với khu V thời ấy, mới rõ thêm sinh hoạt thời kháng chiến.
Nhưng, bài thơ khiến tôi cảm động hơn cả lại là những câu thơ trong bài Hoa vòi voi – nó nhân văn, nó thật như là cảnh tôi đã từng đọc ở một nhà thơ đồng hương khác là Phạm Hổ, khi đi tập kết ra Bắc, viết trong bài Những ngày xưa thân ái:
Tôi bắn hắn rồi
Những ngày xưa thân ái
Không ngăn nổi tay tôi…

Tôi biết những câu thơ ấy thể hiện tinh thần tiến công cách mạng, không khoan nhượng trước kẻ thù, nhưng vẫn rùng mình vì nghĩ đến cảnh tao ngộ nơi chiến trường thật sự giữa hai người bạn đã có thời ấu thơ bên nhau. Bài thơ của Trần Huiền Ân không diễn tả cảnh “xáp lá cà” sẵn sàng xả súng vào bạn mà chỉ là trong cuộc giao tranh súng đạn vô tình. Biết là thế, biết là không thể đặng đừng mà vẫn xót xa. Bài thơ này viết trong những năm cuộc chiến diễn ra ác liệt, không đọc bài thơ này bằng tình cảm thiên tả thiên hữu, ta thấy Trần Huiền Ân đã nói những điều đắng đót của cuộc chiến trên đất nước – cuộc chiến ý thức hệ đẩy những người anh em, bạn bè vào hai chiến tuyến. Nói trong lòng xã hội miền Nam, trong tâm trạng: “Con buông trôi cuộc đời không lý tưởng Chưa một lần toan ao ước say mê…”(Trời quê mộ Mẹ). Trong khi đó, những nội dung tương tự như vậy phải đến 30 năm sau phía văn học của chúng ta mới nói đến (tôi nhớ có đọc được của nhà thơ Hương Đình bài thơ viết về người mẹ của hai đứa con ở hai chiến tuyến rất xúc động và được nhiều bạn văn chương tán thưởng).
Tôi chưa gặp Trần Huiền Ân, nghe nói hiện nay ông đang sinh hoạt tại Hội Văn học Nghệ thuật Phú Yên. Nhưng tôi đã được gặp ông từ trong thơ lâu lắm rồi! Xin chia sẻ cùng mọi người hai bài thơ nhỏ của Trần Huiền Ân.

Trần Hà Nam

THƠ TRẦN HUIỀN ÂN

HẸN XƯA

Tôi đi học giữa những ngày kháng Pháp
Áo quần thô xám nếp vải xi ta
Đêm đến lớp ngọn đèn chai gió táp
Tắt vội vàng khi tiếng máy bay qua
Chúng tôi ngồi quanh hiên đình chật hẹp
Bóng thầy chao trên vách chắn phên thưa
Chòm tóc ngắn bên những vồng tóc kẹp
Ngước uống từng lời mắt sáng đong đưa
Ngòi bút dùng gốc tre già vót nhỏ
Giấy nam trung còn dấu sợi rơm hiền
Son thầy phê vàng hoe màu thuốc đỏ
Tôi nâng niu từng nét chữ nghiêng nghiêng
Tan buổi về lo chăn bò, cắt cỏ
Đắp lúa, thăm đồng, mót lúa, đuổi chim
Thương cha mẹ già nua, còn khốn khó
Nước mắt xuôi hàng – Máu ngược về tim
Tuổi học trò của tôi là thế đấy
Trên đất khô cằn vượt nở hoa tươi
Quen thuộc quá nên nhọc nhằn chẳng thấy
Vòng tay ôm hoài bão ấm môi cười.
Chúng tôi căm hờn quân thù tàn ác
Đốt sách, giết thầy, phá sập trường quê
Lưỡi lê nồng tanh máu ngừơi bạo sát
Đã không chừa em nhỏ mới a, b
Chúng tôi nguyền lớn khôn cùng xây dựng
Đất nước Việt-Nam độc lập hoà bình
Cho những ngôi trường oai nghiêm sừng sững
Tiếng hát học trò thêm sáng bình minh
Và bây giờ theo tháng ngày xưa tính
Bạn bè trôi lưu lạc mất trong hồn
Tôi ngỡ ngàng tra thân vào nghiệp lính
Chợt giật mình nhìn lại hẹn lớn khôn
Buổi hằng buổi theo đoàn quân tiến bước
Ra thao trường tắm nắng gội mồ hôi
Tôi nhìn các em – nhìn tôi thuở trước

Chạy dọc đường bưng rổ bánh, mâm xôi
Lời em rao lên cao rồi tắt nghẽn
Tầng dư ba không lả lướt chào mời
Đôi tay gầy cặm xương vào xác én
Khấp khểnh chân trần nhịp thở chùng hơi
Bán đi em nhanh nhanh về đi học
Rồi thả trâu, rồi bế bé, trông nhà
Tôi xét mình xin cúi đầu trách móc
Bao lỡ lầm thiếu sót phận anh cha
Nên các em còn bơ vơ đói rách
Sớm tảo tần mong kiếm bát cơm vơi
Bốn năm tuổi mũi thần lau chưa sạch
Đã tranh đua chen chúc với dòng đời
Tôi không biết mình xưng tên chiến đấu

Cho các em cùng nối mộng cao xa
Hay cho những người cười trên lửa máu
Thêm sang giàu nhờ xáo thịt nồi da?
1966
T.H.Â

HOA VÒI VOI
Hai xóm cách nhau nhánh sông nho nhỏ
Một bến đò ngang chắp mút nẻo đường
Hai đứa quen nhau lúc nào chẳng rõ
Hăm mấy năm trường chẳng mến cùng thương

Thuở nào xa xưa chung thầy chung bạn
Bữa cơm mo trưa chung đội bóng xoài
Mùa trăng hạ tắm chung dòng nước cạn
Con sông hiền âu yếm vỗ tầm vai

Đêm tháng chạp rủ chơi trò giặc giả
Hai xóm hai miền hai đứa hai phe
Đứa do thám địch tình trên đất lạ
Đứa tuần hành tai mắt cố tìm nghe

Thằng tuần tiễu bắt được thằng do thám
Giữa đám vòi voi hoa trắng ven sông
Nó lưỡng lự nhìn mây trời tự xám
Khẽ mỉm cười…Tha đó…chạy đi ông

Nhưng thuở nào xa xưa giờ đã hết
Cuộc tương tàn hai đứa lại hai phe
Im lặng chia tay một chiều vãn tết
Muốn hé nên lời sợ chính mình nghe

Rồi sau đêm bờ sông bom đạn rú
Một thằng đi dọn máu xương tàn
Lật xác quân thù…Ôi…người bạn cũ
Giữa đám vòi voi hoa cuộn băng tang
1965